ソン先生
Powered by Blogger.

Cộng đồng ngôn ngữ Việt - Nhật ベトナムー日本言語共同

Truyền lửa đam mê

LIÊN HỆ

Name

Email *

Message *

Follow Me

histats - thống kê

About us

ĐĂNG KÝ KÊNH YOUTUBE

THỐNG KÊ LƯỢT TRUY CẬP

Den So Luot Luot Website

Video Of Day

Recent Posts

CHỦ ĐỀ TIẾNG NHẬT

Đăng nhập

Bài đăng phổ biến

Tuesday, December 15, 2015

【応援メッセー】Lời động viên tinh thần

Unknown     4:35 AM    
【応援メッセー】Lời động viên tinh thần
『出来る、出来ない』を決めるのは自分だ。
(松岡修造)
Quyết định 『làm được, không làm được』là do bản thân.
-----------
他人から『無理だ』『諦めたほうがいい』なんて言われると、どうしても流されてしまうよね。
Khi bị người khác bảo "không thể, không làm được đâu", "nên từ bỏ đi" thì dù thế nào cũng sẽ bị lay động.
けれど、『諦める』と決めるのは、他人ではなく、自分なんだよ。
Nhưng mà việc quyết định "từ bỏ", không phải việc của người khác, mà là chính bản thân mình.
反対に、『諦めない』と決めるのも、自分なんだ。
Ngược lại, việc quyết định "không từ bỏ" cũng là việc của bản thân.
他人は、君が積み上げてきた努力や頑張りを、100%知っているわけではない
Và người khác không hẳn là biết được 100% những cố gắng, những nổ lực mà bạn đã vun bồi.
それを一番知っているのは、君の心だ。自分の心を信じてみようよ。そして、諦めるな。
Biết rõ nhất việc đó là trái tim của bạn. Hãy thử tin tưởng trái tim của bạn. Và ĐỪNG TỪ BỎ
【応援メッセージ】Lời nhắn động viên
苦しい時ほど、笑ってごらん
(松岡修造)
Khi gặp khó khăn, hãy cười thử xem.
--------------------
つらい時、苦しい時は笑顔になれないよね。でも、そんな時こそ、僕は笑うんだ。
Khi gặp đau khổ, khi gặp khó khăn thì khuôn mặt không thể tươi vui nổi. Nhưng mà, chình vì khi đó, tôi cười.
笑顔でいれば、自分も、周りの人も明るくなれると信じているから。
Vì nếu khuôn mặt tươi cười, bản thân cũng tin rằng mọi người xung quanh cũng trở nên vui vẻ.
大きな声で『明日は大丈夫!』『次は大丈夫!』と言いながら、笑顔とガッツポーズ。
Vừa giơ tay lên cao, thể hiện tư thế chiến thắng cùng khuôn mặt tươi cười, vừa nói to 『Ngày mai sẽ ổn』『Tiếp theo sẽ không sao』
そうすると、心も体も『そうかな?』なんて勘違いして、頑張る力や乗り切る力がどんどんわき出してくるんだ。
Nếu làm thế, cả tâm hồn và thể xác sẽ phán đoán sai lầm 『Đúng vậy nhỉ』, và khả năng cố gắng và sức mạnh chiến thắng sẽ phun trào liên tiếp không ngừng.
そうかな?』なんて勘違いして、頑張る力や乗り切る力がどんどんわき出してくるんだ。
Nếu làm thế, cả tâm hồn và thể xác sẽ phán đoán sai lầm 『Đúng như thế nhỉ』, và lực cố gắng và sức mạnh chiến thắng sẽ phun trào liên tiếp không ngừng.
Matsuoka shuzo

Kanji minano nihongo 500 chữ cơ bản

Unknown     4:33 AM    
Học KANJI thế này vui vui dễ nhớ ( ^_^)/~~~

Kanji minano nihongo 500 chữ cơ bản, đây là sách Hán Tự mình học đầu tiên, nhìn dễ nhớ, bài tập dễ làm, thú vị. Bạn nào mới học nên học quyển này, đi từ căn bản ( ^_^)/~~~

File Rar:
http://www.mediafire.com/download/aj6fv1ts2k4tzhs/JML.Minna.no.Nihongo-Kanji.Eigoban.rar

File PDF cho các bạn dùng điện thoại: 
Cả 2 quyển đã ghép lại thành 1:

http://www.mediafire.com/download/v3v84fa3vv3plnm/Minna+no+Nihongo+I+-+Kanji+Eigoban_merged.pdf

VIẾT CÓ DẤU - KO UP MAIL 
Các bạn có thể dùng máy tính hay điện thoại đều tải được.

Link vẫn down được bình thường và không có PASS

《Từ vựng》-Từ láy tổng hợp

Unknown     4:30 AM    
《Từ vựng》

ぱたぱた : vù vù, vèo vèo, phà phà 

ひりひり: rát rát, tê tê

びしょびしょ: ướt nhẹp, chèm nhẹp, ướt sũng

さっぱり: thoải mái, sảng khoái, phê phê ( ̄▽ ̄)

P/s: Từ vựng cũ sẽ ko giải nghĩa lại. 
ぎらぎら: chói chang

べとべと = べたべた: dinh dính, nhớt nhớt, dích chịt 

べっとり = べったり: dính dích chịt 
こっそり: len lén, lén lút, âm thầm

びりびり: xoẹt xoẹt, soạt soạt (tiếng xé giấy) 

くすくす: khúc khích, hí hí (cười) 

すやすや: ngủ thẳng cẳng, ngủ phê, ngủ ngon.

じーっ (じっと) : nhìn chằm chằm, chăm chú

かりかり: sột soạt

くしゃくしゃ: vò vò, nhàu nhàu

ひひひ: hihihi

こっくり: ngủ gà ngủ gật, gục lên gục xuống, mơ mơ màng màng

ぼーっ (ぼうっと): xem bài cũ

つんつん (つんけん - とげとげしい): cộc cằn, gay gắt, gắt gỏng, khó chịu
おろおろ: bàng hoàng, hoảng hốt, luống cuống, lúng túng

わいわい: ồn ào, huyên náo 

ひらひら: phất phới, bay bổng

ぱくぱく: liên tục, liên hồi, không dừng (hành động ăn, đóng mở, thử giày) 

ころころ: lộc cộc, lông lốc (vật lăn tròn)

ちらちら: len lén, thấp thoáng (nhìn), loáng thoáng (nghe)

ゆらゆら: đung đưa, lung lay

ふらふら: chao đảo, say sẩm, ngã nghiêng ngã ngửa

げらげら: hố hố, cười sặc sụa (cười to, cười phá lên)

きょろきょろ: bồn chồn, sốt ruột, đứng ngồi không yên

ごくごく: ừng ực, ực ực (uống) 

えーんえーん: hu hu (khóc lớn tiếng) 
がらがら: ọc ọc, khạc khạc (xúc miệng)

ぼーっ: (xem bài cũ)

ぶつぶつ: khe khẽ, rên rên, lầm bầm, làu nào

ひりひり: (xem bài cũ)

こんこん: lặp đi lặp lại nhiều lần. Liên miên, liên tục 
診療室 : phòng khám chữa bệnh
足のけが : vết thương ở chân

《Từ vựng》

ぺりっと = ぺりぺり= べりべり=べりっと : rắc rắc, xoẹt xoẹt, tẹt, bon, (chỉ trạng thái âm thanh vật mỏng bị nứt, vỡ, bị bóc ra..)

くるくる: quấn quấn, vòng vòng, cuốn cuốn

ぼきっ = ぽきっ= ぽきぽき: rắc, rắc rắc, rốp, rốp rốp (âm thanh vật giòn, cứng bị gãy, bẻ, vỡ..)

ぶらぶら: đung đưa, đong đưa, đưa đẩy
《レストラン内》Trong nhà hàng 

くんくん: hít hít, ngửi ngửi

かちゃかちゃ: cạch cạch, tách tách

ずるずる = つるっと = つるつる: rột rột, sột sột (âm thanh ăn, húp, uống)

がちゃん: rầm rầm, ầm ầm, cạch cạch, tách tách

ちゃりん: keng keng, kong kong

びしょびしょ: xem bài cũ

もぐもぐ: nhai trong miệng (ko phát ra tiếng, ko há miệng to, ko nhai chóp chép) 

ばくばく = ぱくぱく: xem bài cũ

ちゅー: hút chụt chụt, hút sột sột 

かたん: cạch, bon (âm thanh va chạm vật nhẹ, nhỏ - làm ngã rồi dựng lên)
《調理場》ちょうりば - Nhà Bếp

しゅうしゅう: sôi ùng ục

ことこと: nấu chín nhừ, nát nhừ 

ぎゅっぎゅっ: siết siết, nhào nhào, nặn nặn

とんとん: cộc cộc, cộp cộp (cắt, gọt)

ざくざく: sạt sạt (cắt, bào)

ぽいっ : vèo, vút (vứt đi)

じゅーっ: xèo xèo (chiên, nướng) 
《調理場》ちょうりば - Nhà Bếp

しゅうしゅう: sôi ùng ục

ことこと: nấu chín nhừ, nát nhừ 

ぎゅっぎゅっ: siết siết, nhào nhào, nặn nặn

とんとん: cộc cộc, cộp cộp (cắt, gọt)

ざくざく: sạt sạt (cắt, bào)

ぽいっ : vèo, vút (vứt đi)

じゅーっ: xèo xèo (chiên, nướng) 

Từ láy 1

Unknown     4:26 AM    
【Từ láy tiếng Nhật】


《Từ vựng》

ぼうっと: ngây ngất, lâng lâng, mơ hồ

ぷかぷか: lềnh bềnh

ざあざあ: ào ào

ぶくぶく: (thổi khí) phụt phụt, phọt phọt 

ぬるぬる: trườn trượt, trơn nhớt

ふわふわ: mềm mại

ごしごし: chà chà, cọ cọ

ぽたぽた: tủm tủm, ton ton

Bài 50: Tiền Liên Từ

Unknown     4:23 AM    
Bài 50: Tiền Liên Từ


Hê hê, chào mọi người. Không biết có ai thắc mắc về tên bài học ngày hôm nay không? Đã ai nghe “Tiền Liên Từ ” bao giờ chưa. Nếu chưa nghe thì đọc hết bài hôm nay đi sẽ hiểu.

Các bạn có biết cách thức đưa ra lí do trong tiếng Nhật thì rất nhiều, và trong đó có một cách là dùng で. Và sắc thái nghĩa của nó thì thường là đưa ra lí do có vẻ khách quan, giảm nhẹ tính chủ quan, trách nhiệm của người nói, kiểu như “Không phải lỗi của tôi, lỗi cái tay tôi =))”. Ví dụ:

道に迷ったので、遅刻してしまいました。
Vì lộn đường nên tôi đến muộn.

暇なので、ゲームをしています。
Vì rảnh rỗi nên tôi chơi game

この店は中心から離れていますが、食事が美味しいので、お勧めます。
Quán ăn này mặc dù xa trung tâm nhưng vì món ăn nấu ngon nên tôi xin được đề cử.

Cách kết hợp là N+で・N+なので、Aい+ので、Aなので、V thể thường+ので. Các bạn sẽ thắc mắc tại sao lại toàn ので chứ có phải で quái đâu. Thực chất cấu trúc này là で、 và có 1 quy tắc là で chỉ kết hợp với danh từ, thành ra trước khi kết hợp với で mà chưa phải danh từ thì phải danh từ hóa nó trước. Thế nên N+で hay N+なので đều được cả. Còn về việc danh từ hóa thì mình sẽ viết cụ thể ở bài khác. Ngoài ra bạn có thể thay の bằng ん cũng chả vấn đề gì、bởi vì khi đọc nhanh の hay bị biến thành ん, nói chung ん thì mang tính hội thoại nhiều hơn. Ví dụ:

暇なんで、ゲームをしています。

この店は中心から離れていますが、食事が美味しいんで、お勧めます。

Đã nói đến なんで rồi có một cách dùng mà không thể không đề cập đến. Có vẻ như các giáo trình hay dạy cách hỏi “tại sao” là どうして hoặc なぜ. Nhưng thực tế thì trong cách nói hàng ngày của người Nhật họ hay dùng なんで hơn. なんで ở đây không phải là “bằng cái gì?” bởi vì で này không phải で phương tiện, cách thức. で ở đây chính là trong cấu trúc で bên trên, chỉ nguyên nhân, còn なん là chữ 何 (cái gì). Nói cách khác なんで có nghĩa là “vì cái gì?”. Xin nhắc lại là khi hỏi người khác “tại sao” thì hãy dùng なんで thay vì どうして và なぜ bởi vì どうして và なぜ dùng trong ngôn ngữ viết nhiều hơn và nếu trong hội thoại mà hỏi bằng “どうして” hoặc “なぜ” nói chung người nghe sẽ ko thích vì nó có cảm giác là bị hỏi cung. Khi dùng thì đặt ở đầu câu để hỏi.


Bài hôm nay đến đây là hết rồi, các bạn đã hiểu “Tiền Liên Từ” là gì chưa? Chưa hiểu thì cũng dễ hiểu thôi vì nó là cái mình vừa chém ra chứ có nghĩa gì đâu =)). Chắc đọc đến bài sau sẽ biết tại sao bài này tên là “Tiền Liên Từ”. Nếu nhanh trí có thể bạn đã đoán ra rồi ;))

Còn sau đây là bài hát どうして君を好きになってしまったんだろう? → Tại sao anh lại thích em chứ?

Bạn nào sáng tạo hát theo cũng chớ hát thành なんで君を好きになってしまったんだろう? Sắc thái nghĩa khác nhau đấy.

Bài 49: Vたがる

Unknown     4:23 AM    
Bài 49: Vたがる

Chào mọi người. Hôm nay là bài cuối cùng trong loạt bài về “ham muốn” rồi. Trong bài trước chúng ta đã đề cập đến cách nói “muốn làm gì” của ngôi 1 và ngôi 2. Còn hôm nay chúng ta sẽ học cách nói “Cô ấy muốn ăn kem”. Khi dùng với ngôi thứ 3 thay vì dùng Vたいchúng ta sẽ dùng Vたがる. Đơn giản phải không? Cách chia động từ là Vます bỏ ます. Ví dụ:

彼女はアイスクリームを食べたがります。
Cô ấy muốn ăn kem

そこへ行きたがる人は誰もいないの?
Không ai muốn đến đấy à?


そこへ行きたい人は誰もいないの?
Không ai muốn đến đấy à?


2 ví dụ cuối được dịch nghĩa giống nhau, nhưng thực chất nó khác nhau ở ngữ cảnh, chủ thể hành động. Các bạn hãy tự nghĩ xem trong 2 ngữ cảnh ấy khác nhau như thế nào nhé. Coi như bài tập, ai giải thích hợp lí sẽ có thưởng. Động não chút đi cho khỏe người!!

Một điểm nữa cần lưu ý với các bạn là động từ sau khi kết hợp với たがる sẽ trở thành một cụm động từ loại 1. Tức là sau đó bạn có chia động từ tiếp thì phải chia nó theo quy tắc của động từ loại 1. Ví dụ:

はとしたがって、のもかまわず、にしてしまいました。
Anh ta vì muốn cưới cô ấy mà không thèm quan tâm đến ý kiến ba mẹ, đã tự ý cưới.
(Cấu trúc V てしまう, もかまわず đã học trong bài 19, 20)

Bài hôm nay cũng nhẹ nhàng thôi, không có gì nhiều. Chỉ cần khi dùng các bạn chú ý đến ngôi của chủ thể tạo ra hành động là được.

Bài 48: Vたい

Unknown     4:22 AM    
Bài 48: Vたい

Chào các bạn. Như đầu tuần đã nói tuần này chúng ta sẽ học tất cả các cấu trúc nói đến ham muốn, nguyện vọng trong tiếng Nhật nên hôm nay chúng ta hãy cùng xem thử cấu trúc Vたい。Cấu trúc này dùng khi nói bản thân muốn làm gì đó hoặc hỏi, xác nhận về ý muốn người nghe. Nói tóm lại là ngôi 1 và ngôi 2, cụ thể là “tôi muốn”( ngôi 1), “bạn muốn”(ngôi 2), nhưng KHÔNG có “anh ấy cô ấy muốn” ( ngôi 3 ). Bởi vậy chúng ta sẽ học cấu trúc biểu thị ham muốn của ngôi 3 trong bài sau. Ví dụ:

はさ、へきたくなかったものだ。
Tôi ấy, ngày bé chả thích đi nhà trẻ.
(Biểu thị ý muốn của người nói)

東京へ行きたいですか
Anh muốn đi Tokyo ah?
(Hỏi xác nhận lại ý muốn người nghe)

Một câu hỏi đặt ra là nếu hỏi ý muốn người nghe thì cấu trúc này có thể dùng để mời mọc kiểu như :

へ行きたいですか
Anh có muốn đi đến căng tin trường không?
(Cũng là một thể loại hỏi ý kiến người nghe)

Câu trả lời là KHÔNG. Những lúc ấy ta dùng “学食へ行きませんか”
.
彼は東京へ行きたいそうです。
Nghe nói anh ấy muốn đi Tokyo
( Không dùng cách nói này, mặc dù nếu nói thì người Nhật vẫn hiểu, có điều là sai ngữ pháp)

Ngoài ra khi động từ kết hợp vớiたい thì chúng ta có thể dùng với trợ từ が thay vì をnhưng nếu không dùng thì cũng chả sao. Nguyên nhân của việc có thể dùng がlà bởi vì khi kết hợp với たい thì cả cụm ấy sẽ chuyển thành tính từ đuôi い. Mà khi dùng tính từ thì người ta dùng が chứ không dùng を bao giờ. Tất nhiên xin nhắc lại trong trường hợp này bạn có thể dùng cả が và を。Ví dụ:
私はのを(が)食べたいなぁ。
Tôi muốn ăn thịt bò Kobe.

Khác với ほしい trong bài trước chỉ dùng với danh từ, cấu trúc này chỉ dùng với động từ, và cách chia động là để thể ます nhưng bỏ ます. Các bạn có thể tham khảo trong các ví dụ trên.

Còn một bài nữa liên quan đến chủ đề này và tuần sau chúng ta sẽ tạm dừng ngữ pháp để học sang những phần khác. Vậy hẹn gặp các bạn trong bài học cuối tuần.

Bài 47: ~がほしい・~Vてほしい

Unknown     4:21 AM    
Bài 47: ~がほしい・~Vてほしい

Chào mọi người. Hôm nay chúng ta học một cấu trúc có thể coi là sơ cấp. Đó là cấu trúc ほしい mặc dù phần nhiều những bài viết là dành cho trung cấp. Bởivì tuần này chúng ta sẽ học một loạt các cấu trúc nói về sự mong muốn mà trong đó có cả cấu trúc ほしい.

ほしい được viết chữ Hán là 欲しい, chữ Hán của nó là chữ Dục trong dục vọng nghĩa là ham muốn.Cấu trúc này thể hiện ham muốn sở hữu một vật, một cái gì đó nào đó của người nói. Ngoài ra nó cũng có thể được dùng để hỏi về ham muốn của người nghe. Đối tượng của sự ham muốn được theo sau bởi trợ từ が. ほしい là tính từ đuôi い nên nếu trong câu nó được chia tiếp sang thể khác thì nó vẫn tuân theo quy luật của tính từ đuôi い. Ví dụ:

車(くるま)が欲しい(ほしい)なぁ。
Muốn có xe hơi quá à!

彼女(かのじょ)が欲しければ、まず自分を磨(みが)けなきゃと思う。
Tôi nghĩ nếu bạn muốn có bạn gái thì trước hết phải đánh bóng bản thân đã.

Đó là dạng cơ bản của cấu trúc ほしい. Dạng nâng cao của cấu trúc này là Vてほしい. Tức là khi kết hợp với động từ thể て cấu trúc này có nghĩa là ta muốn người nghe làm cái công việc ấy cho mình. Ví dụ:

どうか来てほしい。水際まで来てほしい。
Dù thế nào cũng muốn anh/em đến. Muốn anh/em đến bên bờ sông.
(Xin lỗi vì câu này có vẻ chả ăn nhập gì. Thực chất nó là lời bài hát của ハナミズキ).

学校へ来る前、宿題(しゅくだい)を完成(かんせい)させてほしい。
Tôi muốn các em hoàn thành bài về nhà trước khi đến lớp.

Bài học hôm nay đến đây là hết rồi. Hẹn gặp các bạn trong bài tiếp theo của loạt bài này.

Cuối cùng xin mời các bạn thưởng thức bài hát ハナミズキ trong bộ phim nổi tiếng cùng tên của Nhật và nghe xem cấu trúc vừa học xuất hiện ở chỗ nào nhé.


Bài 46: Trợ từ で và に trong chỉ thời gian

Unknown     4:20 AM    
Bài 46: Trợ từ で và に trong chỉ thời gian

Phù mệt quá, đi suốt cả ngày trời, mệt rã rời. Đúng như lịch hôm nay post bài nên dù hơi muộn tí mọi người thông cảm.

Hôm nay chúng ta sẽ học cách phân biệt giữa 2 trợ từ で và に trong cách dùng với thời gian. Mặc dù trợ từ là một trong những bài học sơ cấp nhưng thực tế thì khi các bạn học ngữ pháp trung cấp nhiều quá thành ra lại quên, nhầm lẫn giữa các giới từ (kinh nghiệm bản thân và bạn bè). Vậy nên hôm nay chúng ta sẽ học cách phân biệt rõ ràng các giới từ này.

Trước tiên mình xin đưa ra các khái niệm đầu tiên. に dùng với MỐC THỜI GIAN, 1 thời điểm ví dụ: 3月に、今朝に、4時に、午前中に、。。。Còn で là trạng từ dùng với KHOẢNG THỜI GIAN, ví dụ: 3ヶ月、4時間、2年間、一瞬、。。。Khi dùng với で thì có nghĩa là cái việc đó diễn ra trong bao lâu. Ví dụ:

この建物(たてもの)は三ヶ月(さんかげつ)で建(た)てられます。
Tòa nhà này được xây trong 3 tháng

今朝(けさ)に学校へ行きました。
Sáng nay tôi đã đến trường.

一瞬(いっしゅん)で休んで、仕事(しごと)を続(つづ)けたほうがいいですよ。
Nên nghỉ ngơi trong chốc lát rồi tiếp tục công việc thì hơn.

Các bạn có biết trạng từ で có 1 chức năng là chỉ phương tiện, cách thức không. Ví dụ:

毎日、自転車で学校に通います。
Tôi đến trường bằng xe đạp hàng ngày.

Ở đây khi diễn tả sự việc xảy ra trong bao lâu, công việc hoàn thành trong bao lâu chúng ta cũng dùng で。Tại sao lại vậy? Bởi vì hãy coi thời gian cũng là một phương tiện để thực hiện công việc đi. Nói tổng quát hơn, で là trợ từ dùng để chỉ ra những NHÂN TỐ mà bằng những nhân tố đó sự việc được diễn ra hay hoàn thành. Thế nào khó hiểu chưa? Nhưng rất tiếc mình lại thích hiểu như thế. Vậy nên tự các bạn nên tìm cách giải thích thích hợp cho riêng mình. Nếu chỉ học nhớ chay thì sẽ ko hiểu bản chất và dễ nhầm lẫn. Hãy tư duy để hiểu bản chất vấn đề.

Chúc các bạn có một cuối tuần vui vẻ!

Bài 45: ~に違いない(ちがいない)

Unknown     4:11 AM    
Bài 45: ~に違いない(ちがいない)

Chào các bạn. Mấy ngày dịp 20/11 gặp lại thầy cô bạn bè thế nào? Chắc là rất vui phải không? Còn bây giờ chúng ta vào bài học.

Các bạn có nhớ bài số 3 chúng ta học cấu trúc gì không? (Chắc không nhớ rồi). Chúng ta đã học cấu trúc ~に過ぎない(すぎない). Nếu có thể thì bạn hãy đọc lại bài đấy trước khi vào bài này mặc dù chúng chả liên quan gì về ý nghĩa. Nhưng với cách tiếp cận cấu trúc ngày hôm nay thông qua bài đó thì có lẽ các bạn nên đọc lại.

Trước tiên giải thích qua về ~に違いない. Cấu trúc này có thành phần chính là động từ 違う(chữ VI )có nghĩa là KHÁC BIỆT. Bình thường người Nhật khi muốn nói người khác đang nghĩ, hiểu nhầm một vấn đề gì đó, người ta sẽ nói 違う hoặc 違うよ, 違います. Và 違いない là phủ định của nó KHÔNG NHẦM, KHÔNG SAI được dùng để đưa ra PHÁN ĐOÁN mang đậm tính CHỦ QUAN của người nói. に là trợ từ để kết nối giữa cái việc-không-nhầm với 違いない. Về hình thức cấu trúc này cùng một kiểu với cấu trúc に過ぎない nên chúng ta hãy đặt lại các câu trong bài 3 bằng cấu trúc に違いない này xem.

人生(じんせい)は夢(ゆめ)にすぎない。長生き(ながいき)よりも、むしろ素晴らしい(すばらしい)人生のべきだろうか。
Cuộc đời chả khác gì một giấc mơ. Sống lâu đâu bằng sống đẹp. (nghe vần quá ta :D)  

お前(おまえ)、負け犬(まけいぬ)にすぎない。
Mày chả hơn gì một con cẩu bại trận.

Thay bằng に違いない:

人生は夢に違いない。長生きよりも、むしろ素晴らしい人生のべきだろうか。
Cuộc đời chắc chắn là một giấc mơ. Sống lâu đâu bằng sống đẹp.
(2 câu này chả có ý nghĩa gì ăn nhập với nhau nhưng nếu tách riêng ra chỉ có 人生は夢に違いない thì cũng có thể trong hoàn cảnh nào đó nó có lí )

お前、負け犬に違いない。
Mày chắc chắc là một con cẩu bại trận.
(Có thể lắm nếu như người nói muốn đưa ra phỏng đoán về tương lai )

Nói chung đặt lại câu nghe nó khập khiễng nhưng điều mình muốn nói ở đây là hình thức của 2 cấu trúc này giống nhau, tức là kết hợp với động từ, danh từ, tính từ nguyên thể . Sẽ dễ nhớ hơn khi chúng ta liên tưởng chúng. Sau đây là ví dụ thực sự của cấu trúc này:

あいつのことだから今日も遅れてくるに違いない。
Với cái kiểu của hắn thì hôm nay chắc chắc cũng đi muộn.
(kết hợp động từ)

あそこにかかっている絵(え)は素晴らしい。値段(ねだn)も高いに違いない。
Bức tranh được treo ở đó rất xuất sắc. Giá chắc chắn là đắt
(kết hợp tính từ)

あの話し方(はなしかた)からすると、彼のいっていることはうそに違いない。
Từ cái cách nói chuyện, chắc chắn những gì anh ta đang nói là bốc phét.
(kết hợp danh từ. Lưu ý với danh từ chúng ta có thể dùng cả Nであるに違いない/Nに違いない)

Chúng ta có thể thay cấu trúc PHỎNG ĐOÁN này bằng でしょう, だろう, かもしれない, かねない đã học ở bài 26, 27, 29 bởi vì cùng là PHỎNG ĐOÁN mà. Nhưng cao hơn tất cả, に違いない là dạng PHỎNG ĐOÁN với độ tin tưởng cao nhất. Chúng ta có thể sắp xếp chúng theo thứ tự về mức độ tin tưởng của PHỎNG ĐOÁN như sau:

に違いない > だろう > かもしれない

Bài 44: くらい・ぐらい

Unknown     4:10 AM    
Bài 44: くらい・ぐらい

Chào tuần mới! zzzzZZZ. Hơ buồn ngủ quá. Trời hôm nay lạnh chả muốn đi đâu cả. Thôi thì đi lên fb post bài vậy. Các bạn còn nhớ cấu trúc ほど chúng ta đã học trong bài 32, 33 không? Các bạn nên đọc lại bài đó trước khi đọc bài này. Bởi vì くらい・ぐらい là một cách sử dụng khá là giống với ほど. Cùng để chỉ mức độ của HÀNH ĐỘNG, TRẠNG THÁI.
Ví dụ:

その話(はなし)を聞(き)いて、息(いき)が止(と)まりそうになるぐらい驚(おどろ)いた
Nghe câu chuyện ấy xong tôi cảm thấy kinh hãi đến mức ngừng thở.
(息が止まりそうになるぐらいmức độ ngừng thở
驚いたhành động kinh hãi)

あの日のことは、思い出したくないくらい恥ずかしい(はずかしい)です
Chuyện của ngày hôm đó xấu hổ đến mức không muốn nghĩ lại.
(思い出したくないくらいmức độ không muốn nhớ nữa
恥ずかしいtrạng thái xấu hổ)

昨日(きのう)のテレビは、あごが外れるくらい笑った。
Chương trình TV ngày hôm qua buồn cười đến sái quai hàm.
(あごが外(はず)れるくらいmức độ sái quai hàm
笑ったhành động cười)

Các bạn thấy sao, rất giống với ほど phải không? Từ ý nghĩa đến cách kết hợp với động từ, danh từ, tính từ. Sự khác biệt lớn nhất giữa ほど và くらい・ぐらい là ほど dùng để chỉ những thứ với mức độ ghê gớm, khủng khiếp hơn. Chúng ta có thể nói 死(し)ぬほど疲(つか)れた nhưng không thể nói 死ぬくらい疲れた。

Ngoài ra các bạn sẽ có thể thắc mắc là tại sao lúc くらい、lúc lại là ぐらい, sao không dùng luôn một cái cho dễ. Vấn đề này là có lí do của nó đấy. Bạn hãy thử phát âm cụm này xem: 休んででも行くくらい大切なもの. Cảm giác thế nào khi phát âm liền lúc 2 chữ く? So với 行くぐらい thì cái nào đọc dễ hơn? Bạn hiểu vấn đề rồi chứ? Nhưng nói chung những trường hợp bị như thế cũng ít nên khi dùng bạn có thể thoải mái sử dụng くらい và nên chú ý 1 số trường hợp đặc biệt là được.

Và để bắt đầu tuần mới, sau đây là bản nhạc hay nhất thế giới. Cho tình yêu và hòa bình:


Bài 43: ~をはじめ。。。まで

Unknown     4:10 AM    
Bài 43: ~をはじめ。。。まで

今晩わ! Chắc đây là lần đầu tiên được chào bằng câu này trong topic kể từ ngày bắt đầu. Hôm nay chúng ta sẽ học về một cấu trúc liệt kê khá đặc biệt. Khác với các cấu trúc liệt kê khác, cấu trúc này liệt kê theo thứ tự ưu tiên, từ việc trung tâm đến việc thứ yếu. Tức là người nói muốn nhấn mạnh cái đầu tiên là cái chủ yếu, những cái sau chỉ là đi kèm thôi. Các bạn thử xem 2 ngữ này “đáng thương nhưng cũng đáng trách” và “đáng trách nhưng cũng đáng thương” giống nhau hay khác nhau như thế nào? Mẫu đằng trước “đáng thương” nhiều hơn còn mẫu sau “đáng trách” lại nhiều hơn. Tương tự như vậy thì mọi người chú ý đến thứ tự được ưu tiên như sau: đằng trước をはじめ là cái được ưu tiên và đằng sau nó là cái không ưu tiên. Ví dụ:

慶応大学(けいおうだいがく)は、大学をはじめ、小学校(しょうがっこう)まである。
Trường Keio có từ cấp đại học đến tiểu học.
(đại học Keio nên có cấp đại học là điều đương nhiên, là cái chủ yếu, nhưng mặt khác nó cũng có cả cấp tiểu học, và người ta muốn kể ra)

箱根(はこね)には温泉(おんせん)をはじめ、紅葉(もみじ)まである。
Ở Hakone đầu tiên phải kể đến suối nước nóng, rồi thì có cả cây lá đỏ.
(Hakone là 1 tỉnh rất nổi tiếng về suối nước nóng, nghe đến nó là người ta nghĩ đến suối nước nóng nhưng ngoài ra người ta vẫn muốn kể thêm những thứ phụ như cây lá đỏ)

Một ví dụ cho việc dùng sai cấu trúc này là:

この町には学校をはじめ、映画館(えいがかん)まであります。
Thị trấn này có từ trường học đến cả rạp chiếu phim.

Câu này sai vì nó chả có ý nghĩa gì khi nhấn mạnh rằng cái thị trấn này có trường học và có cả rạp chiếu phim. Nó giống như kiểu bạn nói rằng “Nhà em có từ cái bàn đến cả cái ghế” mà trong đó lại còn nhấn mạnh rằng “đầu tiên phải kể đến cái bàn”.


© 2011-2014 ソン先生. Designed by Bloggertheme9. Powered By Blogger | Published By Blogger Templates .