ソン先生: Bài học
Powered by Blogger.

Cộng đồng ngôn ngữ Việt - Nhật ベトナムー日本言語共同

Truyền lửa đam mê

LIÊN HỆ

Name

Email *

Message *

Follow Me

histats - thống kê

About us

ĐĂNG KÝ KÊNH YOUTUBE

THỐNG KÊ LƯỢT TRUY CẬP

Den So Luot Luot Website

Video Of Day

Recent Posts

CHỦ ĐỀ TIẾNG NHẬT

Đăng nhập

Bài đăng phổ biến

Showing posts with label Bài học. Show all posts
Showing posts with label Bài học. Show all posts

Tuesday, December 15, 2015

Bài 54: V1てはV2

Unknown     5:43 AM    
Bài 54: V1てはV2

Cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa....

Các bạn sẽ hỏi tại sao tôi lại lảm nhảm như vậy phải không? Câu trả lời nằm dưới đây.

Cấu trúc V1てはV2 dùng để diễn tả các hành động như bên trên, 2 việc mà cứ làm cái việc trước xong thì làm luôn cái việc thứ 2, diễn tả một trạng thái lặp đi lặp lại. Thường là cái việc làm sau ngáng trở sự việc đàng trước, kiểu như người làm kẻ phá. Thành ra là nó cứ dao động qua lại, mãi như vậy. Ví dụ:

一行書いては考え込むので、レポートがまったく完成できない。
Cứ viết một dòng thì lại nghĩ lại thành ra mãi chả viết xong báo cáo

彼に会いたくて、彼のこと考えてはため息をついた。
Tôi muốn gặp anh ấy nên cứ nghĩ về anh ấy rồi lại thở dài.

書いては消し、書いては消し、やっと彼女へのラブレターを書き上げた。
Viết rồi xóa, viết rồi xóa, cuối cùng cũng viết được bức thư tình cho cô ấy.

Nói một cách tổng quát lên thì cũng không hẳn là việc sau ngăn cản việc đằng trước, đó chỉ là một cách sự dụng rất thông dụng của cấu trúc này thôi. Chính xác ý nghĩa của cấu trúc này là diễn tả 2 sự việc xảy ra mà khoảng cách thời gian giữa chúng là rất ngắn, ngay liền sau nhau và lặp đi lặp lại nhiều lần. Tóm lại 2 điểm mấu chốt là:
-Khoảng cách ngắn
-Lặp đi lặp lại.  
Ví dụ:

時計を見てはどきどきして、恋人が来るのを待った。
Chờ người yêu đến, cứ nhìn đồng hồ xong lại thấy hồi hộp.

Như trong ví dụ cuối cùng, anh chàng kia đi gặp người yêu nên trong khi đợi cứ vừa nhìn đồng hồ xong thì tim lại đập thình thình, nhìn xong lại đập thình thình. Lạ nhỉ, người yêu chứ có phải mẹ con nhà Cám  đâu mà sợ!

Bài 53: 千の風になって

Unknown     5:42 AM    
Bài 53: 千の風になって

Chào các bạn. Hôm nay chúng ta sẽ đổi không khí một chút. Học tiếng Nhật qua bài hát千の風になって ( Trở thành hàng ngàn cơn gió). Bài hát này đã được 秋川雅史(Akikawa Masafumi)trình bày tại Đại nhạc hội Việt – Nhật lần 2 vào năm 2008. Bài hát với phần nhạc và lời đậm chất suy tư, giống như lời hát của những linh hồn samurai trong gió, thể xác có thể mất đi nhưng ý chí không thì luôn còn và vẫn dõi theo những người họ yêu thương. 


のおので かないでください
Đừng khóc trước mộ tôi
そこにはいません んでなんかいません
Tôi không có ở đó, tôi đâu có chết

のに 千の風になって
Tôi biến thành ngàn cơn gió
あのきなを きわたっています
Thổi ngang qua bầu trời to rộng kia

にはになって にふりそそぐ
Vào mùa thu, tôi trở thành ánh sáng tràn trên những cánh đồng
はのように きらめくになる
Mùa đông tôi trở thành tuyết lấp lánh như kim cương

はになって あなたをめさせる
Buổi sáng biến thành chim, đánh thức em dậy
はになって あなたをる
Buổi tối thì biến thành những ngôi sao, dõi theo em.

のおので かないでください
Đừng khóc trước mộ tôi
そこにはいません んでなんかいません
Tôi không có ở đó, tôi đâu có chết

のに のになって
Tôi trở thành ngàn cơn gió
あのきなを きわたっています
Thổi ngang qua bầu trời to rộng kia

のに のになって
あのきなをきわたっています
あのきなをきわたっています
Thổi ngang qua bầu trời to rộng kia.....

Bài 52: Tiếng Nhật lóng (phần 3)

Unknown     5:41 AM    
Bài 52: Tiếng Nhật lóng (phần 3)

Chào các bạn. Hôm nay mình bận việc ở trường nên post bài hơi muộn. Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục phần tiếng Nhật lóng. Xin được giải thích lại một chút là có nhiều bạn hiểu nhầm tiếng Nhật lóng với tiếng địa phương, vùng miền. Thực chất tiếng Nhật lóng là tiếng Nhật được dùng hàng ngày, dùng một cách suồng sã, và thường là thanh niên dùng với nhau. Vậy nên nó rất quan trọng nếu các bạn muốn giao tiếp tốt với người Nhật đặc biệt là thanh niên Nhật.

-めっちゃ:
Đây là một từ lóng chuyên dùng để diễn tả cảm xúc có nguồn gốc xuất phátめちゃくちゃ nghĩa là “ điên cuồng, điên rồ”. Khi nói “めっちゃ面白い” thì có nghĩa là “thú vị kinh khủng”.

-やばい:
Đây là một từ đứng hàng đầu trong các từ lóng thông dụng. Nó được dùng như một từ đa năng, được dùng nhiều đến mức mà khi nhận xét một cái gì thì bạn cứ nói やばい ra, còn họ thích hiểu thế nào thì hiểu. やばい có thể có những nghĩa sau: tuyệt, ghê gớm, kinh khủng, nguy hiểm, bựa, tiều, xuất sắc. Ví dụ:

やばいぞ!
Nguy rồi!

そんな話ってやばいわ
Câu chuyện ấy ghê thật!

Tại sao từ やばい lại có thể diễn tả nhiều ý nghĩa như vậy vì đơn giản là nó  やばい. Bạn hiểu rồi chứ?

-そうっすね・そっすね:
Từ này thực chất không có gì, chỉ là cách nói khác của そうですね thôi.

Nói chung đã là từ lóng thì quy tắc chung là không được dùng với người lớn tuổi hơn. Gây phản cảm cho người nghe, nhất là với một đất nước trọng lễ nghi như Nhật Bản.

Bài 51: Liên từ (phần 1)

Unknown     5:39 AM    
Bài 51: Liên từ (phần 1)

Chào các bạn, đọc tiêu đề bài này các bạn đã hiểu tại sao bài trước lại tên là “Tiền Liên Từ ” chưa ;)). Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu một phần mới trong ngữ pháp tiếng Nhật có tên là “Liên Từ”.

Liên từ là các từ dùng để nối các câu có liên quan về mặt ý nghĩa đứng cạnh nhau. Nói chung là có cực nhiều nhưng thường được chia làm một số nhóm chính như: nguyên nhân-kết quả, tương phản, bổ sung ý nghĩa, liệt kê, chuyển chủ đề,... Nếu sử dụng thành thạo các liên từ trong tiếng Nhật thì câu văn, phong thái nói chuyện trở nên hay hơn nhiều. Hôm nay chúng ta chỉ học 1 phần trong số đó. Nhóm “nhân quả”: それで、そのため、というわけで、だから、で、ですから、したがって、よって、ゆえに、そこで、すると、。。

Nói chung là hầu hết các từ này đều có nghĩa “vì vậy”, “vì thế ”, “do vậy”,..Tuy nhiên có đôi điều cần chú ý. Các từ そこで、それで、で、というわけで đều kết thúc bằng で mà chúng ta đã đề cập ở bài trước: “vì cái đấy”, “vì đó”, “vì lí do đó”.  ゆえに là một từ cổ, hiện nay thường không được dùng mấy nhưng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện. すると cũng có thể được dịch là “ngay sau đó” chỉ hệ quả xảy ra do nguyên nhân câu trước. そこで có sắc thái nghĩa hơi khác một chút, theo sau nó thường là một câu có chứa ý chí, ý nguyện của người nói. Ví dụ:

前回のテストは点数があまりよくなかった。そこで、今回俺はよく頑張ろうとする。
Điểm lần trước không tốt lắm. Thế nên, lần này tao sẽ cố gắng. (Ý chí người nói thể hiện qua động từ thể ý hướng頑張ろう)

退屈なので、テレビをつけてみた。すると、寝ていた赤ちゃんが泣き出した。
Rảnh rỗi sinh nông nổi tôi bật tivi lên. Sau đó bé con đang ngủ bắt đầu khóc.

今日は停電の予定ですよ。というわけで、休講になりました。
Hôm nay theo lịch là cắt điện. Bởi vậy tôi được nghỉ học.

Hoặc là:
今日は停電の予定ですから、休講になりました。
Vì hôm nay theo lịch cắt điện nên tôi được nghỉ học.

Một câu hỏi các bạn sẽ thắc mắc là cùng có ý nghĩa như nhau mà lại lắm từ thế. Câu trả lời là ngoài sự khác biệt đôi chút về mặt sắc thái kể trên thì những từ này được chia làm 2 nhóm chính để sử dụng, văn nói và văn viết. Các từ dùng được trong văn viết thì cũng dùng được trong văn nói nhưng là văn nói lịch sự, trang trọng. Và không có chiều ngược lại, đã dùng để nói thì không viết.

Văn nói suồng sã: だから、よって、で

Văn nói lịch sự: というわけで、ですから

Văn viết: そのため、そこで、したがって、それで、すると、ゆえに

Văn nói suồng sã khác văn nói lịch sự ở chỗ nào ? Đó là văn nói suồng sã chỉ dùng với người thân quen như người thân, bạn bè,..Văn nói trang trọng dùng nói với người ngoài, người trên.

Bài 50: Tiền Liên Từ

Unknown     4:23 AM    
Bài 50: Tiền Liên Từ


Hê hê, chào mọi người. Không biết có ai thắc mắc về tên bài học ngày hôm nay không? Đã ai nghe “Tiền Liên Từ ” bao giờ chưa. Nếu chưa nghe thì đọc hết bài hôm nay đi sẽ hiểu.

Các bạn có biết cách thức đưa ra lí do trong tiếng Nhật thì rất nhiều, và trong đó có một cách là dùng で. Và sắc thái nghĩa của nó thì thường là đưa ra lí do có vẻ khách quan, giảm nhẹ tính chủ quan, trách nhiệm của người nói, kiểu như “Không phải lỗi của tôi, lỗi cái tay tôi =))”. Ví dụ:

道に迷ったので、遅刻してしまいました。
Vì lộn đường nên tôi đến muộn.

暇なので、ゲームをしています。
Vì rảnh rỗi nên tôi chơi game

この店は中心から離れていますが、食事が美味しいので、お勧めます。
Quán ăn này mặc dù xa trung tâm nhưng vì món ăn nấu ngon nên tôi xin được đề cử.

Cách kết hợp là N+で・N+なので、Aい+ので、Aなので、V thể thường+ので. Các bạn sẽ thắc mắc tại sao lại toàn ので chứ có phải で quái đâu. Thực chất cấu trúc này là で、 và có 1 quy tắc là で chỉ kết hợp với danh từ, thành ra trước khi kết hợp với で mà chưa phải danh từ thì phải danh từ hóa nó trước. Thế nên N+で hay N+なので đều được cả. Còn về việc danh từ hóa thì mình sẽ viết cụ thể ở bài khác. Ngoài ra bạn có thể thay の bằng ん cũng chả vấn đề gì、bởi vì khi đọc nhanh の hay bị biến thành ん, nói chung ん thì mang tính hội thoại nhiều hơn. Ví dụ:

暇なんで、ゲームをしています。

この店は中心から離れていますが、食事が美味しいんで、お勧めます。

Đã nói đến なんで rồi có một cách dùng mà không thể không đề cập đến. Có vẻ như các giáo trình hay dạy cách hỏi “tại sao” là どうして hoặc なぜ. Nhưng thực tế thì trong cách nói hàng ngày của người Nhật họ hay dùng なんで hơn. なんで ở đây không phải là “bằng cái gì?” bởi vì で này không phải で phương tiện, cách thức. で ở đây chính là trong cấu trúc で bên trên, chỉ nguyên nhân, còn なん là chữ 何 (cái gì). Nói cách khác なんで có nghĩa là “vì cái gì?”. Xin nhắc lại là khi hỏi người khác “tại sao” thì hãy dùng なんで thay vì どうして và なぜ bởi vì どうして và なぜ dùng trong ngôn ngữ viết nhiều hơn và nếu trong hội thoại mà hỏi bằng “どうして” hoặc “なぜ” nói chung người nghe sẽ ko thích vì nó có cảm giác là bị hỏi cung. Khi dùng thì đặt ở đầu câu để hỏi.


Bài hôm nay đến đây là hết rồi, các bạn đã hiểu “Tiền Liên Từ” là gì chưa? Chưa hiểu thì cũng dễ hiểu thôi vì nó là cái mình vừa chém ra chứ có nghĩa gì đâu =)). Chắc đọc đến bài sau sẽ biết tại sao bài này tên là “Tiền Liên Từ”. Nếu nhanh trí có thể bạn đã đoán ra rồi ;))

Còn sau đây là bài hát どうして君を好きになってしまったんだろう? → Tại sao anh lại thích em chứ?

Bạn nào sáng tạo hát theo cũng chớ hát thành なんで君を好きになってしまったんだろう? Sắc thái nghĩa khác nhau đấy.

Bài 49: Vたがる

Unknown     4:23 AM    
Bài 49: Vたがる

Chào mọi người. Hôm nay là bài cuối cùng trong loạt bài về “ham muốn” rồi. Trong bài trước chúng ta đã đề cập đến cách nói “muốn làm gì” của ngôi 1 và ngôi 2. Còn hôm nay chúng ta sẽ học cách nói “Cô ấy muốn ăn kem”. Khi dùng với ngôi thứ 3 thay vì dùng Vたいchúng ta sẽ dùng Vたがる. Đơn giản phải không? Cách chia động từ là Vます bỏ ます. Ví dụ:

彼女はアイスクリームを食べたがります。
Cô ấy muốn ăn kem

そこへ行きたがる人は誰もいないの?
Không ai muốn đến đấy à?


そこへ行きたい人は誰もいないの?
Không ai muốn đến đấy à?


2 ví dụ cuối được dịch nghĩa giống nhau, nhưng thực chất nó khác nhau ở ngữ cảnh, chủ thể hành động. Các bạn hãy tự nghĩ xem trong 2 ngữ cảnh ấy khác nhau như thế nào nhé. Coi như bài tập, ai giải thích hợp lí sẽ có thưởng. Động não chút đi cho khỏe người!!

Một điểm nữa cần lưu ý với các bạn là động từ sau khi kết hợp với たがる sẽ trở thành một cụm động từ loại 1. Tức là sau đó bạn có chia động từ tiếp thì phải chia nó theo quy tắc của động từ loại 1. Ví dụ:

はとしたがって、のもかまわず、にしてしまいました。
Anh ta vì muốn cưới cô ấy mà không thèm quan tâm đến ý kiến ba mẹ, đã tự ý cưới.
(Cấu trúc V てしまう, もかまわず đã học trong bài 19, 20)

Bài hôm nay cũng nhẹ nhàng thôi, không có gì nhiều. Chỉ cần khi dùng các bạn chú ý đến ngôi của chủ thể tạo ra hành động là được.

Bài 48: Vたい

Unknown     4:22 AM    
Bài 48: Vたい

Chào các bạn. Như đầu tuần đã nói tuần này chúng ta sẽ học tất cả các cấu trúc nói đến ham muốn, nguyện vọng trong tiếng Nhật nên hôm nay chúng ta hãy cùng xem thử cấu trúc Vたい。Cấu trúc này dùng khi nói bản thân muốn làm gì đó hoặc hỏi, xác nhận về ý muốn người nghe. Nói tóm lại là ngôi 1 và ngôi 2, cụ thể là “tôi muốn”( ngôi 1), “bạn muốn”(ngôi 2), nhưng KHÔNG có “anh ấy cô ấy muốn” ( ngôi 3 ). Bởi vậy chúng ta sẽ học cấu trúc biểu thị ham muốn của ngôi 3 trong bài sau. Ví dụ:

はさ、へきたくなかったものだ。
Tôi ấy, ngày bé chả thích đi nhà trẻ.
(Biểu thị ý muốn của người nói)

東京へ行きたいですか
Anh muốn đi Tokyo ah?
(Hỏi xác nhận lại ý muốn người nghe)

Một câu hỏi đặt ra là nếu hỏi ý muốn người nghe thì cấu trúc này có thể dùng để mời mọc kiểu như :

へ行きたいですか
Anh có muốn đi đến căng tin trường không?
(Cũng là một thể loại hỏi ý kiến người nghe)

Câu trả lời là KHÔNG. Những lúc ấy ta dùng “学食へ行きませんか”
.
彼は東京へ行きたいそうです。
Nghe nói anh ấy muốn đi Tokyo
( Không dùng cách nói này, mặc dù nếu nói thì người Nhật vẫn hiểu, có điều là sai ngữ pháp)

Ngoài ra khi động từ kết hợp vớiたい thì chúng ta có thể dùng với trợ từ が thay vì をnhưng nếu không dùng thì cũng chả sao. Nguyên nhân của việc có thể dùng がlà bởi vì khi kết hợp với たい thì cả cụm ấy sẽ chuyển thành tính từ đuôi い. Mà khi dùng tính từ thì người ta dùng が chứ không dùng を bao giờ. Tất nhiên xin nhắc lại trong trường hợp này bạn có thể dùng cả が và を。Ví dụ:
私はのを(が)食べたいなぁ。
Tôi muốn ăn thịt bò Kobe.

Khác với ほしい trong bài trước chỉ dùng với danh từ, cấu trúc này chỉ dùng với động từ, và cách chia động là để thể ます nhưng bỏ ます. Các bạn có thể tham khảo trong các ví dụ trên.

Còn một bài nữa liên quan đến chủ đề này và tuần sau chúng ta sẽ tạm dừng ngữ pháp để học sang những phần khác. Vậy hẹn gặp các bạn trong bài học cuối tuần.

Bài 47: ~がほしい・~Vてほしい

Unknown     4:21 AM    
Bài 47: ~がほしい・~Vてほしい

Chào mọi người. Hôm nay chúng ta học một cấu trúc có thể coi là sơ cấp. Đó là cấu trúc ほしい mặc dù phần nhiều những bài viết là dành cho trung cấp. Bởivì tuần này chúng ta sẽ học một loạt các cấu trúc nói về sự mong muốn mà trong đó có cả cấu trúc ほしい.

ほしい được viết chữ Hán là 欲しい, chữ Hán của nó là chữ Dục trong dục vọng nghĩa là ham muốn.Cấu trúc này thể hiện ham muốn sở hữu một vật, một cái gì đó nào đó của người nói. Ngoài ra nó cũng có thể được dùng để hỏi về ham muốn của người nghe. Đối tượng của sự ham muốn được theo sau bởi trợ từ が. ほしい là tính từ đuôi い nên nếu trong câu nó được chia tiếp sang thể khác thì nó vẫn tuân theo quy luật của tính từ đuôi い. Ví dụ:

車(くるま)が欲しい(ほしい)なぁ。
Muốn có xe hơi quá à!

彼女(かのじょ)が欲しければ、まず自分を磨(みが)けなきゃと思う。
Tôi nghĩ nếu bạn muốn có bạn gái thì trước hết phải đánh bóng bản thân đã.

Đó là dạng cơ bản của cấu trúc ほしい. Dạng nâng cao của cấu trúc này là Vてほしい. Tức là khi kết hợp với động từ thể て cấu trúc này có nghĩa là ta muốn người nghe làm cái công việc ấy cho mình. Ví dụ:

どうか来てほしい。水際まで来てほしい。
Dù thế nào cũng muốn anh/em đến. Muốn anh/em đến bên bờ sông.
(Xin lỗi vì câu này có vẻ chả ăn nhập gì. Thực chất nó là lời bài hát của ハナミズキ).

学校へ来る前、宿題(しゅくだい)を完成(かんせい)させてほしい。
Tôi muốn các em hoàn thành bài về nhà trước khi đến lớp.

Bài học hôm nay đến đây là hết rồi. Hẹn gặp các bạn trong bài tiếp theo của loạt bài này.

Cuối cùng xin mời các bạn thưởng thức bài hát ハナミズキ trong bộ phim nổi tiếng cùng tên của Nhật và nghe xem cấu trúc vừa học xuất hiện ở chỗ nào nhé.


Bài 46: Trợ từ で và に trong chỉ thời gian

Unknown     4:20 AM    
Bài 46: Trợ từ で và に trong chỉ thời gian

Phù mệt quá, đi suốt cả ngày trời, mệt rã rời. Đúng như lịch hôm nay post bài nên dù hơi muộn tí mọi người thông cảm.

Hôm nay chúng ta sẽ học cách phân biệt giữa 2 trợ từ で và に trong cách dùng với thời gian. Mặc dù trợ từ là một trong những bài học sơ cấp nhưng thực tế thì khi các bạn học ngữ pháp trung cấp nhiều quá thành ra lại quên, nhầm lẫn giữa các giới từ (kinh nghiệm bản thân và bạn bè). Vậy nên hôm nay chúng ta sẽ học cách phân biệt rõ ràng các giới từ này.

Trước tiên mình xin đưa ra các khái niệm đầu tiên. に dùng với MỐC THỜI GIAN, 1 thời điểm ví dụ: 3月に、今朝に、4時に、午前中に、。。。Còn で là trạng từ dùng với KHOẢNG THỜI GIAN, ví dụ: 3ヶ月、4時間、2年間、一瞬、。。。Khi dùng với で thì có nghĩa là cái việc đó diễn ra trong bao lâu. Ví dụ:

この建物(たてもの)は三ヶ月(さんかげつ)で建(た)てられます。
Tòa nhà này được xây trong 3 tháng

今朝(けさ)に学校へ行きました。
Sáng nay tôi đã đến trường.

一瞬(いっしゅん)で休んで、仕事(しごと)を続(つづ)けたほうがいいですよ。
Nên nghỉ ngơi trong chốc lát rồi tiếp tục công việc thì hơn.

Các bạn có biết trạng từ で có 1 chức năng là chỉ phương tiện, cách thức không. Ví dụ:

毎日、自転車で学校に通います。
Tôi đến trường bằng xe đạp hàng ngày.

Ở đây khi diễn tả sự việc xảy ra trong bao lâu, công việc hoàn thành trong bao lâu chúng ta cũng dùng で。Tại sao lại vậy? Bởi vì hãy coi thời gian cũng là một phương tiện để thực hiện công việc đi. Nói tổng quát hơn, で là trợ từ dùng để chỉ ra những NHÂN TỐ mà bằng những nhân tố đó sự việc được diễn ra hay hoàn thành. Thế nào khó hiểu chưa? Nhưng rất tiếc mình lại thích hiểu như thế. Vậy nên tự các bạn nên tìm cách giải thích thích hợp cho riêng mình. Nếu chỉ học nhớ chay thì sẽ ko hiểu bản chất và dễ nhầm lẫn. Hãy tư duy để hiểu bản chất vấn đề.

Chúc các bạn có một cuối tuần vui vẻ!

Bài 45: ~に違いない(ちがいない)

Unknown     4:11 AM    
Bài 45: ~に違いない(ちがいない)

Chào các bạn. Mấy ngày dịp 20/11 gặp lại thầy cô bạn bè thế nào? Chắc là rất vui phải không? Còn bây giờ chúng ta vào bài học.

Các bạn có nhớ bài số 3 chúng ta học cấu trúc gì không? (Chắc không nhớ rồi). Chúng ta đã học cấu trúc ~に過ぎない(すぎない). Nếu có thể thì bạn hãy đọc lại bài đấy trước khi vào bài này mặc dù chúng chả liên quan gì về ý nghĩa. Nhưng với cách tiếp cận cấu trúc ngày hôm nay thông qua bài đó thì có lẽ các bạn nên đọc lại.

Trước tiên giải thích qua về ~に違いない. Cấu trúc này có thành phần chính là động từ 違う(chữ VI )có nghĩa là KHÁC BIỆT. Bình thường người Nhật khi muốn nói người khác đang nghĩ, hiểu nhầm một vấn đề gì đó, người ta sẽ nói 違う hoặc 違うよ, 違います. Và 違いない là phủ định của nó KHÔNG NHẦM, KHÔNG SAI được dùng để đưa ra PHÁN ĐOÁN mang đậm tính CHỦ QUAN của người nói. に là trợ từ để kết nối giữa cái việc-không-nhầm với 違いない. Về hình thức cấu trúc này cùng một kiểu với cấu trúc に過ぎない nên chúng ta hãy đặt lại các câu trong bài 3 bằng cấu trúc に違いない này xem.

人生(じんせい)は夢(ゆめ)にすぎない。長生き(ながいき)よりも、むしろ素晴らしい(すばらしい)人生のべきだろうか。
Cuộc đời chả khác gì một giấc mơ. Sống lâu đâu bằng sống đẹp. (nghe vần quá ta :D)  

お前(おまえ)、負け犬(まけいぬ)にすぎない。
Mày chả hơn gì một con cẩu bại trận.

Thay bằng に違いない:

人生は夢に違いない。長生きよりも、むしろ素晴らしい人生のべきだろうか。
Cuộc đời chắc chắn là một giấc mơ. Sống lâu đâu bằng sống đẹp.
(2 câu này chả có ý nghĩa gì ăn nhập với nhau nhưng nếu tách riêng ra chỉ có 人生は夢に違いない thì cũng có thể trong hoàn cảnh nào đó nó có lí )

お前、負け犬に違いない。
Mày chắc chắc là một con cẩu bại trận.
(Có thể lắm nếu như người nói muốn đưa ra phỏng đoán về tương lai )

Nói chung đặt lại câu nghe nó khập khiễng nhưng điều mình muốn nói ở đây là hình thức của 2 cấu trúc này giống nhau, tức là kết hợp với động từ, danh từ, tính từ nguyên thể . Sẽ dễ nhớ hơn khi chúng ta liên tưởng chúng. Sau đây là ví dụ thực sự của cấu trúc này:

あいつのことだから今日も遅れてくるに違いない。
Với cái kiểu của hắn thì hôm nay chắc chắc cũng đi muộn.
(kết hợp động từ)

あそこにかかっている絵(え)は素晴らしい。値段(ねだn)も高いに違いない。
Bức tranh được treo ở đó rất xuất sắc. Giá chắc chắn là đắt
(kết hợp tính từ)

あの話し方(はなしかた)からすると、彼のいっていることはうそに違いない。
Từ cái cách nói chuyện, chắc chắn những gì anh ta đang nói là bốc phét.
(kết hợp danh từ. Lưu ý với danh từ chúng ta có thể dùng cả Nであるに違いない/Nに違いない)

Chúng ta có thể thay cấu trúc PHỎNG ĐOÁN này bằng でしょう, だろう, かもしれない, かねない đã học ở bài 26, 27, 29 bởi vì cùng là PHỎNG ĐOÁN mà. Nhưng cao hơn tất cả, に違いない là dạng PHỎNG ĐOÁN với độ tin tưởng cao nhất. Chúng ta có thể sắp xếp chúng theo thứ tự về mức độ tin tưởng của PHỎNG ĐOÁN như sau:

に違いない > だろう > かもしれない

Bài 44: くらい・ぐらい

Unknown     4:10 AM    
Bài 44: くらい・ぐらい

Chào tuần mới! zzzzZZZ. Hơ buồn ngủ quá. Trời hôm nay lạnh chả muốn đi đâu cả. Thôi thì đi lên fb post bài vậy. Các bạn còn nhớ cấu trúc ほど chúng ta đã học trong bài 32, 33 không? Các bạn nên đọc lại bài đó trước khi đọc bài này. Bởi vì くらい・ぐらい là một cách sử dụng khá là giống với ほど. Cùng để chỉ mức độ của HÀNH ĐỘNG, TRẠNG THÁI.
Ví dụ:

その話(はなし)を聞(き)いて、息(いき)が止(と)まりそうになるぐらい驚(おどろ)いた
Nghe câu chuyện ấy xong tôi cảm thấy kinh hãi đến mức ngừng thở.
(息が止まりそうになるぐらいmức độ ngừng thở
驚いたhành động kinh hãi)

あの日のことは、思い出したくないくらい恥ずかしい(はずかしい)です
Chuyện của ngày hôm đó xấu hổ đến mức không muốn nghĩ lại.
(思い出したくないくらいmức độ không muốn nhớ nữa
恥ずかしいtrạng thái xấu hổ)

昨日(きのう)のテレビは、あごが外れるくらい笑った。
Chương trình TV ngày hôm qua buồn cười đến sái quai hàm.
(あごが外(はず)れるくらいmức độ sái quai hàm
笑ったhành động cười)

Các bạn thấy sao, rất giống với ほど phải không? Từ ý nghĩa đến cách kết hợp với động từ, danh từ, tính từ. Sự khác biệt lớn nhất giữa ほど và くらい・ぐらい là ほど dùng để chỉ những thứ với mức độ ghê gớm, khủng khiếp hơn. Chúng ta có thể nói 死(し)ぬほど疲(つか)れた nhưng không thể nói 死ぬくらい疲れた。

Ngoài ra các bạn sẽ có thể thắc mắc là tại sao lúc くらい、lúc lại là ぐらい, sao không dùng luôn một cái cho dễ. Vấn đề này là có lí do của nó đấy. Bạn hãy thử phát âm cụm này xem: 休んででも行くくらい大切なもの. Cảm giác thế nào khi phát âm liền lúc 2 chữ く? So với 行くぐらい thì cái nào đọc dễ hơn? Bạn hiểu vấn đề rồi chứ? Nhưng nói chung những trường hợp bị như thế cũng ít nên khi dùng bạn có thể thoải mái sử dụng くらい và nên chú ý 1 số trường hợp đặc biệt là được.

Và để bắt đầu tuần mới, sau đây là bản nhạc hay nhất thế giới. Cho tình yêu và hòa bình:


Bài 43: ~をはじめ。。。まで

Unknown     4:10 AM    
Bài 43: ~をはじめ。。。まで

今晩わ! Chắc đây là lần đầu tiên được chào bằng câu này trong topic kể từ ngày bắt đầu. Hôm nay chúng ta sẽ học về một cấu trúc liệt kê khá đặc biệt. Khác với các cấu trúc liệt kê khác, cấu trúc này liệt kê theo thứ tự ưu tiên, từ việc trung tâm đến việc thứ yếu. Tức là người nói muốn nhấn mạnh cái đầu tiên là cái chủ yếu, những cái sau chỉ là đi kèm thôi. Các bạn thử xem 2 ngữ này “đáng thương nhưng cũng đáng trách” và “đáng trách nhưng cũng đáng thương” giống nhau hay khác nhau như thế nào? Mẫu đằng trước “đáng thương” nhiều hơn còn mẫu sau “đáng trách” lại nhiều hơn. Tương tự như vậy thì mọi người chú ý đến thứ tự được ưu tiên như sau: đằng trước をはじめ là cái được ưu tiên và đằng sau nó là cái không ưu tiên. Ví dụ:

慶応大学(けいおうだいがく)は、大学をはじめ、小学校(しょうがっこう)まである。
Trường Keio có từ cấp đại học đến tiểu học.
(đại học Keio nên có cấp đại học là điều đương nhiên, là cái chủ yếu, nhưng mặt khác nó cũng có cả cấp tiểu học, và người ta muốn kể ra)

箱根(はこね)には温泉(おんせん)をはじめ、紅葉(もみじ)まである。
Ở Hakone đầu tiên phải kể đến suối nước nóng, rồi thì có cả cây lá đỏ.
(Hakone là 1 tỉnh rất nổi tiếng về suối nước nóng, nghe đến nó là người ta nghĩ đến suối nước nóng nhưng ngoài ra người ta vẫn muốn kể thêm những thứ phụ như cây lá đỏ)

Một ví dụ cho việc dùng sai cấu trúc này là:

この町には学校をはじめ、映画館(えいがかん)まであります。
Thị trấn này có từ trường học đến cả rạp chiếu phim.

Câu này sai vì nó chả có ý nghĩa gì khi nhấn mạnh rằng cái thị trấn này có trường học và có cả rạp chiếu phim. Nó giống như kiểu bạn nói rằng “Nhà em có từ cái bàn đến cả cái ghế” mà trong đó lại còn nhấn mạnh rằng “đầu tiên phải kể đến cái bàn”.


Bài 41: ~Vるつもりだ・~Vないつもりだ

Unknown     4:09 AM    
Bài 41: ~Vるつもりだ・~Vないつもりだ

Chào các bạn, tuần trước chúng ta đã học về cách nói nên, không nên như thế nào còn tuần này chúng ta sẽ học về cách nói dự định trong tiếng Nhật. Cụ thể hôm nay chúng ta học về cách nói  ~Vるつもりだ・~Vないつもりだ。Đây là cách nói về dự định khi chúng ta đã có (hoặc không có ) suy nghĩ về cách thực hiện nó từ trước rồi. Giống như cách dùng “be / be not going to do something” trong tiếng Anh. Ví dụ:

今日、「~Vるつもりだ・~Vないつもりだ」という文法(ぶんぽう)を説明(せつめい)するつもりです。
Hôm nay, tôi định sẽ giải thích về cấu trúc 「~Vるつもりだ・~Vないつもりだ
.

昨日(きのう)、藤沢市(ふじさわし)へ遊び(あそび)に行かないつもりでしたけど、友達が誘(さそ)いに行ってくれて、ついに行きました。
Hôm qua tôi không định đến Fujisawa chơi, nhưng mà bạn rủ nên cuối cùng cũng đi.

Cách kết hợp với động từ là V thể từ điển hoặc V phủ định như trên.


Bài 42: ~予定だ.~よていだ

Unknown     4:08 AM    
Bài 42: ~予定だ.~よていだ

Chào mọi người. Hôm trước chúng ta học về つもり rồi vậy các bạn có thể đoán được hôm nay chúng ta học gì không? Chính xác là chúng ta học về 予定. Có thể nhiều bạn khi nhìn vào tiêu đề sẽ nghĩ rằng đây là ngữ pháp sơ cấp, đúng, nhưng thực ra chưa chắc bạn đã hiểu hết và nắm vững về nó đâu. Xin nhấn mạnh rằng đây là bài viết có dành cả cho trình độ trung cấp trở lên. Có thể bạn hiểu nó đại khái nhưng lại chưa hiểu sâu được những sự khác biệt nho nhỏ trong cách dùng của nó. Và sự “hiểu sâu” với “hiểu đại khái” chính là sự khác biệt về trình độ đấy.

Từ này có nghĩa là DỰ ĐỊNH, là danh từ vậy nên các cách kết hợp với nó cũng như với danh từ, Vる予定、Nの予定。Từ này cũng là một từ dùng để nói về dự định, sắp xếp, có kế hoạch giống như つもり nhưng nó ở mức độ cao hơn, gần như là chắc chắn sẽ làm. Giống như kiểu bạn đã lên kế hoạch và viết vào thời gian biểu ấy, nói tóm lại là rất rất cụ thể. Ví dụ:

明日(あした)は休校(きゅうこう)の予定で、どこか遊(あそ)びませんか?
Ngày mai theo lịch là nghỉ học, có đi đâu đó chơi không?

新宿(しんじゅく)ゆきの電車(でんしゃ)は9時が来る予定ですが、まだ来ないです。
Tàu điện đi Shinjuku theo lịch trình là đến đây vào 9 giờ nhưng mãi chưa đến.

Những việc kiểu như giờ tàu, đi công tác, hẹn gặp ai đó, ...mà nói chung là có kế hoach cụ thể rồi thì dùng 予定. Có lẽ vì dùng để diễn tả dự định rất chắc chắn mà khi nói về kế hoạch dự định, nhất là khi nói với người lớn tuổi thì nên dùng cấu trúc này thay vì dùng つもり. Một điểm nữa cần lưu ý là trong khi chúng ta có Vないつもり、Vるつもり thì chúng ta lại không có Vない予定 mà chỉ có Vる予定は(が、の)ない. Ah nhân tiện nhắc đến, hình như bài trước quên mất một chỗ cần lưu ý đó là Vるつもりがないcó ý nghĩa nhấn mạnh hơn Vないつもり. Cái này chả cần nhớ, tự bạn cảm nhận sẽ hiểu tại sao có cái này mà ko có cái kia, hay cái này lại nhấn mạnh hơn cái kia.

Bài 40: ~Vよりも、むしろ ~Vべきだ・Vたほうがいい

Unknown     4:06 AM    
Bài 40: ~Vよりも、むしろ ~Vべきだ・Vたほうがいい

Chào các bạn. 2 bài học gần đây nhất các bạn thấy thế nào? Nếu các bạn đã nhớ và biết cách sử dụng chúng thì tốt, còn nếu không bài hôm nay chúng ta sẽ có cơ hội được luyện tập thêm với chúng, thông qua một cấu trúc mới. Đó là ~Vよりも、むしろ~. Hình như đã có một bài nào đó mình đã giải thích cho các bạn về cấu trúc よりも thì phải (bài 24, 25). Xin nhắc lại よりも có nghĩa là “so với”. Ví dụ: 勉強するよりも có nghĩa là “so với việc học hành”. Động từ đứng trướcよりも là động từ nguyên thể . Còn むしろ thì hôm nay chúng ta làm quen lần đầu. むしろ có nghĩa là “thà”( làm gì đó còn hơn). Vì vậy kết hợp toàn bộ các cấu trúc này lại chúng ta có một cấu trúc tổng hợp diễn tả ý nghĩa là “nếu làm một việc gì đó, thì thà làm việc khác còn hơn”. Ví dụ:

勉強するよりも、むしろすぐに就職(しゅうしょく)すべきだ。
Thà đi tìm việc làm ngay còn hơn là đi học.

彼女(かのじょ)が作った料理を食べるよりも、むしろ死(し)んだほがいい
Ăn món ăn cô ấy làm thì thà chết còn hơn.

Các bạn thấy đấy, trông cấu trúc phức tạp nhưng thực ra từng phần nhỏ chúng ta đã học hết rồi. Bởi vậy mới nói đừng thấy phức tạp ban đầu mà nản, cấu trúc ngữ pháp dù lớn đến đâu thì cũng là từ các cấu trúc đơn giản hơn kết hợp lại mà thôi. Chúc các bạn một cuối tuần tốt lành!


Bài 39: ~するべきだ・べきではない。

Unknown     4:05 AM    
Bài 39: ~するべきだ・べきではない。

Chào các bạn, 2 ngày đã đủ để nhớ cấu trúc sơ cấp ~ほうがいい chưa? Chắc là nhớ kĩ lắm rồi đấy. Nếu vậy thì hôm nay chúng ta sẽ học tiếp một cấu trúc với ý nghĩa tương tự ~するべきだ。Về mặt ý nghĩa thì gần như là tương đồng, dùng để đưa ra lời khuyên. Nhưng điểm khác biệt lớn nhất có lẽ là sắc thái. So với ほうがいい, べき có sắc thái nghĩa trang nghiêm hơn, chủ trương của người nói mạnh mẽ hơn. Chính vì vậy mà ほうがいい không bao giờ được dùng trong văn viết trong khi べき thì luôn được dùng (sẽ có một bài khác mình giới thiệu về sự khác biệt từ ngữ trong văn nói và văn viết). Cách dùng là với động từ chia thể từ điển. Ngoài ra khi muốn nói không nên làm gì thì thay vì Vないほうがいい bạn phải dùng là Vべきではない。Ví dụ:

朝(あさ)早く(はやく)起きろうとすれば、遅く(おそく)まで働く(はたらく)べきではない。
Nếu muốn dậy sớm thì đừng có làm việc đến khuya.

例(れい)を出す前に注意(ちゅうい)するべき点(てん)を解釈(かいしゃく)いたします。
Trước khi đưa ra ví dụ, tôi xin giải thích một số điểm cần lưu ý。

本投稿(ほんとうこう)を読んだ上(うえ)で、「~ほうがいい」という文法(ぶんぽう)について説明した投稿を読むべきだ。
Trước khi đọc bài này thì nên đọc trước bài về cấu trúc「~ほうがいい」

Một điểm nhỏ nữa cần lưu ý là thỉnh thoảng các bạn sẽ thấy Vすべき thay vì Vするべき(đối với trường hợp động từ loại 3). Cả hai cách này đều đúng, すべき là cách dùng cổ, đến nay vẫn thường được dùng trong văn viết và được người lớn tuổi sử dụng. Ngày nay tiếng Nhật chấp nhận cả するべき nên dùng cách nào cũng được. Giới thiệu ra đây chỉ là để các bạn không bị khó hiểu khi gặp すべき thôi.

Bài 38: ~したほうがいい・~しないほうがいい

Unknown     4:05 AM    
Bài 38: ~したほうがいい・~しないほうがいい

Chào các bạn. Một tuần tự ôn tập thế nào? Hi vọng là các bạn đã ôn tập, nhớ lại nhiều kiến thức. Còn hôm nay chúng ta vào bài mới. Trước khi vào bài mới mình có thông báo thay đổi chút là từ nay một tuần sẽ chỉ có 3 bài vào thứ 2, 4, 6. Số lượng bài được giảm bớt vì có một số ý kiến cho rằng mỗi ngày một bài thì nhiều quá, không nhớ hết được. Thế này chắc topic của chúng ta nên chuyển từ “Tiếng Nhật mỗi ngày” thành “Tiếng Nhật mỗi 2 ngày” mất.
Được rồi, chúng ta vào bài mới. Hôm nay chúng ta học một cấu trúc sơ cấp rất thông dụng để đưa ra lời khuyên. Lời khuyên này mang nặng tính chủ quan của bản thân người nói nên nhiều lúc bạn sẽ thấy người ta cho thêm と思う đằng sau.

Ví dụ:
一週間(いっしゅうかん)に3回(かい)ぐらい投稿(とうこう)したほうがいいと思う。
Tôi nghĩ là một tuần nên đăng khoảng 3 bài.

一週間に3回以上投稿しないほうがいい。
Một tuần không nên đăng bài quá 3 lần.

Cấu trúc này chỉ dùng với Vた(nên làm gì) và Vない(không nên làm gì). Lưu ý là Vた nhưng không có ý nghĩa là quá khứ, chỉ là cách chia như vậy thôi, ý nghĩa vẫn là hiện tại.

Tặng các bạn một ca khúc của 2 tay guitar người Nhật Depapepe, tựa đề là:

READY!GO!!

© 2011-2014 ソン先生. Designed by Bloggertheme9. Powered By Blogger | Published By Blogger Templates .