ソン先生: Ngữ pháp tiếng Nhật
Powered by Blogger.

Cộng đồng ngôn ngữ Việt - Nhật ベトナムー日本言語共同

Truyền lửa đam mê

LIÊN HỆ

Name

Email *

Message *

Follow Me

histats - thống kê

About us

ĐĂNG KÝ KÊNH YOUTUBE

THỐNG KÊ LƯỢT TRUY CẬP

Den So Luot Luot Website

Video Of Day

Recent Posts

CHỦ ĐỀ TIẾNG NHẬT

Đăng nhập

Bài đăng phổ biến

Showing posts with label Ngữ pháp tiếng Nhật. Show all posts
Showing posts with label Ngữ pháp tiếng Nhật. Show all posts

Thursday, December 17, 2015

Học cách phát âm trong tiếng nhật

Unknown     4:55 AM    
Học cách phát âm trong tiếng nhật

Sau khi học xong bảng chữ cái chúng ta phải học cách phát âm. Dưới đây là một số vấn đề quan trọng trong phát âm mà chúng ta cần phải nắm vững trước khi bước vào các bài học liên quan đến ngữ pháp.

1. Trường âm :là âm được đọc kéo dài.

a. trường âm của hàng a( ka, sa, ta….) sẽ là aあ
ví dụ:
おかあさん:mẹ
おばあさん:bà

b. Trường âm của hàng i (ki, shi, chi…) sẽ là い
おじいさん: ông
おにいさん: anh trai
ちいさい : nhỏ, bé

c. Trường âm của hàng ư( ku, su, tsu….) sẽ là ư
Ví dụ:
くうき:không khí
ゆうべ:tối qua

d. trường âm của hàng ê (kê, sê, te,...) sẽ là い
chú ý: âm i này sẽ được phát âm như một âm ê
ví dụ:
とけい: Đồng hồ
せんせい:thầy giáo
えいが:phim
Trong trường hợp đặc biệt, ví dụ trong cách viết theo văn nói nó sẽ biến âm thành ê
Ví dụ: すげえ、たけえ、

e. Trường âm của ô( ko, so, to,mo…) phần lớn sẽ là う
Chú ý: âm ư này sẽ được phát âm như một âm ô
ví dụ:
おとうさん:bố
こうえん:công viên
きょう:hôm nay
có nhiều từ mới mà trường âm của ô vẫn là ô,
ví dụ:
おおきい: rộng, lớn

2. âm mũi: ám chỉ âm n

âm n khi đứng trước phụ âm P hoặc B sẽ được đọc là m
(P,B còn được gọi là âm môi, vì khi phát âm ta phải sử dụng đến môi)

えんぴつ(empitsu)  bút chì
こんばんは(kombanwa) chào buổi tối
さんびゃく(sambyaku)  300

n sẽ được đọc là ng khi đứng sau nó là phụ âm k,g, w

Ví dụ:

こんかい kông kai : lần này
こんげつ kông getsu : tháng này
こんばんは kom bang wa : Chào buổi tối ( trường hợp đặc biệt ha sẽ đọc là wa )

Còn lại sẽ đọc là n

3. Âm ngắt ( Khi nói phải dừng lại)
Âm tsu “っ”  nhỏ sẽ được gọi là âm ngắt khi chúng ta viết bé hơn chữ tsu つbình thường
Nguyên tắc : nó sẽ gấp đôi phụ âm( k,s,t,p) đứng sau nó
ざっし Zas_shi:tạp chí   けっこん kek_kon: kết hôn
きって kit_te: tem    いっぱい ip_pai: đầy
こっち:kot_chi : về phía này ( nhưng khi nó trước phụ âm c thì nó sẽ có thêm một âm t chữ không phải âm

-------------------------------------------------------------------------------------
Nguyên âm dài
– Trong tiếng Nhật có các nguyên âm dài khi phát âm trường độ thường bằng khoảng hai lần âm đơn (những âm trong bảng Hiragana và Katakana)
あー アー aa
いー イー ii
うー ウー uu
えー エー ee
おー オー oo

Âm ghép trường âm (âm dài)
– các âm ghép trong bảng sau được phát âm có trường độ bằng khoảng hai lần âm đơn (tức ‘hai phách’).
おう オー oo(*)
こう コー koo
そう ソー soo
とう トー too
のう ノー noo
ほう ホー hoo
もう モー moo
よう ヨー yoo
ろう ロー roo

(*) Chú ý: Trong nhiều tài liệu tiếng Nhật, khi các âm dài được viết bằng chữ La Mã thường dùng dấu ngang phía trên nguyên âm như ‘ō’. Để đơn giản, tôi thay thế âm dài này bằng hai nguyên âm đứng liền nhau, về ý nghĩa thì oo tương đương với ‘ō’, âm uu tương đương với ‘ū’.
Các âm dài khác:
きゅう キュウ kyuu きょう キョー kyoo
しゅう シュウ shuu しょう ショー shoo
ちゅう チュウ chuu ちょう チョー choo
にゅう ニュウ nyuu にょう ニョー nyoo
ひゅう ヒュウ hyuu ひょう ヒョー hyoo
みゅう ミュウ myuu みょう ミョー myoo
りゅう リュウ ryuu りょう リョー ryoo
ぎゅう ギュウ gyuu ぎょう ギョー gyoo
じゅう ジュウ juu じょう ジョー joo
びゅう ビュウ byuu びょう ビョー byoo
ぴゅう ピュウ pyuu ぴょう ピョー pyoo

Các âm ghép với くvà ク ở cuối (hai âm):
きゃく キャク kyaku きゅく キュク kyuku きょく キョク kyoku
しゃく シャク shaku しゅく シュク shuku しょく ショク shoku
ちゃく チャク chaku ちゅく チュク chuku ちょく チョク choku
にゃく ニャク nyaku にゅく ニュク nyuku にょく ニョク nyoku
ひゃく ヒャク hyaku ひゅく ヒュク hyuku ひょく ヒョク hyoku
みゃく ミャク myaku みゅく ミュク myuku みょく ミョク myoku
りゃく リャク ryaku りゅく リュク ryuku りょく リョク ryoku
ぎゃく ギャク gyaku ぎゅく ギュク gyuku ぎょく ギョク gyoku
じゃく ジャク jaku じゅく ジュク juku じょく ジョク joku
びゃく ビャク byaku びゅく ビュク byuku びょく ビョク byoku
ぴゃく ピャク pyaku ぴゅく ピュク pyuku ぴょく ピョク pyoku
Các âm ghép với ん ン :
âm ん ン (n hoặc m) này chỉ đứng ở cuối một âm, và được phát âm giống như n hoặc m của tiếng Việt. Các âm trong bảng sau được phát âm có trường độ như âm đơn trong bảng Hiragana và Katakana.
あん アン an えん エン en
かん カン kan けん ケン ken
さん サン san せん セン sen
たん タン tan てん テン ten
なん ナン nan ねん ネン nen
はん ハン han へん ヘン hen
まん マン man めん メン men
らん ラン ran れん レン ren
がん ガン gan げん ゲン gen
ざん ザン zan ぜん ゼン zen
だん ダン dan でん デン den
ばん バン ban べん ベン ben
ぱん パン pan ぺん ペン pen
Ví dụ, âm ん được phát âm tương đương với m trong từ sau :
にほんばし (日本橋) đọc là Nihombashi, tên một địa danh ở Tokyoo.

Chú ý:
Từ này cũng là tên một địa danh ở Oosaka nhưng lại được phát âm là にっぽんばし (Nipponbashi). Âm をヲ (wo) thường được phát âm một mình, không ghép với bất cứ một âm nào. Đây là một trợ từ đặc biệt trong tiếng Nhật thường đứng giữa tân ngữ và động từ như trong ví dụ sau:
Ví dụ:
田中さんはごはんを食べています。
Tanakasan wa gohan wo tabete imasu.
Anh Tanaka đang ăn cơm.
Phụ âm kép – trong tiếng Nhật có âm khá đặc biệt ‘phụ âm kép’ (âm ngắt) được viết bằng chữ つ ツ nhỏ hơn bình thường như sau :
Ví dụ:
学期(がっき) gakki học kì
切符(きっぷ) kippu vé (tàu, máy bay)
切手(きって) kitte tem
カット katto cắt (từ tiếng Anh ‘cut’)
Dấu ー thường được dùng để chỉ âm dài như trong các vị dụ sau:
Ví dụ:
プール bể bơi (pool)
ラーメン mì
コンピュータ máy tính (computer)

Trọng âm:
từ tiếng Nhật cũng có trọng âm, khi trọng âm khác nhau thì nghĩa cũng khác nhau. Nếu các từ cùng âm khác trọng âm được viết bằng chữ Hán thì chữ Hán khác nhau như trong ví dụ sau:
Ví dụ:
はし(箸) : hashi, trọng âm rơi vào âm thứ nhất, có nghĩa là ‘chiếc đũa’
はし(橋) : hashi, trọng âm rơi vào âm thứ hai, có nghĩa là ‘cái cầu’
Biến âm của は: trong câu tiếng Nhật, は (ha) là một trợ từ và thường được phát âm thành わ (wa):
Ví dụ:
わたしは日本語を習います。
Watashi wa Nihongo wo naraimasu.
Tôi học tiếng Nhật.
Biến âm của へ: trong câu tiếng Nhật, へ (he) là một trợ từ và thường được phát âm thành え (e):
Ví dụ:
(わたしは)** 学校へ行きます。
(Watashi wa)** gakkoo e ikimasu.
Tôi đi học.
---------------------


Giới thiệu các kiểu chữ

Unknown     4:52 AM    
Giới thiệu các kiểu chữ 

1. 4 kiểu chữ trong tiếng nhật

Tiếng Nhật có 3 kiểu chữ chính thức và 1 kiểu chữ không chính thức:

-3 kiếu chữ chính thức gồm có: hiragana, katakana và kanji.
-Kiểu chữ không chính thức là romaji.

- bảng chữ hiragana (còn gọi là chữ mềm): thường dùng để viết những từ gốc Nhật hay viết những từ bình thường.

- bảng chữ katakana (còn gọi là chữ cứng): thường dùng để viết những từ có gốc nước ngoài (như: tiếng Anh, tiếng Việt,Pháp, Mỹ...), tên người nước ngoài....

- chữ kanji (còn gọi là chữ hán hay hán tự): thường dùng để viết những từ có gốc Hán và tên người Nhật....

- chữ romaji (giống chữ latinh): thường dùng để phiên âm cho người nước ngoài đọc chữ Nhật. Ngoài ra, nó còn có một chức năng quan trọng nữa, đó là “soạn thảo văn bản, chát chit...” trên máy tính, iphone, ipad...

Ví dụ: muốn viết chữ “Nihon” ta đánh y chang như vậy => kết quả thu được chữ にほん => sau khi ấn phím cách và Enter ta sẽ có chữ hán 日本

2. Vì sao phải học chữ hiragana và katakana

Ở phần trên tôi cũng đã nói sơ qua về vấn đề này tuy nhiên sẽ phải bàn cụ thể hơn về vấn đề này như sau:

Nói tóm lại,việc học bảng chữ cái tiếng Nhật cũng giống như tiếng việt, khi bắt đầu vào lớp một chúng ta phải học bảng chữ cái : a, á, â, b, c, d đ... từ đó ta ghép các phụ âm với nguyên âm để thành một từ, ghép các từ với nhau đề thành một từ mới có ý nghĩa, ghép các từ có ý nghĩa đó với nhau để trở thành một câu hoàn chỉnh.

Ví dụ: ghép phụ âm “c” với nguyên âm “á” ta được chữ “cá”
Phụ âm “m” với nguyên âm đôi “ưa” sẽ được chữ “mưa”
Tương tự trong tiếng nhật, trước tiên ta phải học bảng chữ hiragana và katakana trước

- Học hiragana để học để phát âm,ghép từ, để đọc được chữ hán (kanji)

-Học katakana để đọc, phát âm được từ ngoại lai

Ví dụ : ta học chữ “a” và chữ “mê” ghép lại vói nhau sẽ được chữ amê, nó có nghĩa là “mưa”

học chữ “a” và chữ “Ki” ghép lại với nhau sẽ được chữ aki, nó có nghĩa là “mùa thu”

Ghép các chữ a, mê, ri, ka vào để được chữ amerika, nó có nghĩa là nước Mỹ.

Vậy bảng chữ hiragana và katakana là gì? Có bao nhiêu âm? học như thế nào thì hiệu quả?. Câu trả lời sẽ được đăng trong bài viết tới.
---------------------------------------------


PHẢI BẮT ĐẦU TIẾNG NHẬT TỪ ĐÂU?

Unknown     4:51 AM    
PHẢI BẮT ĐẦU TIẾNG NHẬT TỪ ĐÂU? ( bảng chữ mềm và bảng chữ cứng )

1. NGUYÊN ÂM LÀ GÌ PHỤ ÂM LÀ GÌ?

Nguyên Âm là những âm khi phát âm hơi bật thẳng từ cổ họng ra ngoài

Trong tiếng nhật có 5 nguyên âm chính: A, I, Ư, Ê, Ô (trong tiếng việt có 12 nguyên âm a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y)

Phụ Âm là những âm khi phát âm ta phải sử dụng các cơ quan như răng, môi, lưỡi, họng, lợi v.v..
Ví dụ: S, T, N, K,P, B.....

Cấu trúc của một từ bao gồm nguyên âm và phụ âm, do đó ta phải nắm rõ nguyên âm là gì, phụ âm là gì. Và bởi nó có quan hệ mật thiết với vấn đề phát âm trong bài viết tới vì thế tôi định nghĩa đơn giản như ở bên trên để mọi người dễ hình dung.

2. BẢNG CHỮ MỀM HIRAGANA - CHỮ CỨNG KATAKANA

Tuy nhiên trong tiếng nhật người ta phân chia thành âm đơn và âm đôi.

A. Âm đơn là âm có MỘT CHỮ CÁI

a.Âm đơn (5 nguyên âm) A, I, Ư, Ê, Ô (あ い う え お)
b.Âm đơn (Phụ âm +[5] Nguyên âm)

Ví dụ: với phụ âm K, ta có:
K + A = KA
K + I = KI
K+Ư= KƯ
K + Ê =KÊ
K + Ô = KÔ

Tóm Lại ta được các âm đơn (các chữ)

K: ka, ki, kư, kê,kô か、き、く、け、こ ( 、là DẤU PHẢY )

Tương tự ta sử dụng các phụ âm khác + 5 nguyên âm để ghép thành chữ cái khác
S: sa, shi, su, se, so (chú ý phát âm chữ shi) さ、し、す、せ、そ
T: Ta, chi, Tsu, te, to (chú ý phát âm chữ tsu) た、ち、つ、て、と
N: na, ni, nu, ne, no な、に、ぬ、ね、の
H: ha,hi, hu(fu), he, ho(chú ý phát âm chữ Fu) は、ひ、ふ、へ、ほ
M: ma, mi, mu, me, mo ま、み、む、め、も
R: ra, ri, ru, re, ro  ら、り、る、れ、ろ

Khi ta thêm dấu(〝 )vào phía trên thì K sẽ biến thành G , S sẽ biến thành Z, T sẽ biến thành Đ, H sẽ biến thành B
G: ga, gi, gu, ge, go が、ぎ、ぐ、げ、ご
Đ: đa, di, du, đe, đo (chú ý phát âm chữ di và du, ko phải là đi, đu)
Z: za, zi, zu, ze, zo ざ、じ、ず、ぜ、ぞ
B: ba, bi, bu, be, bo ば、び、ぶ、べ、ぼ

Khi ta thêm (。)vào phía trên thì H sẽ biến thành P
P: pa, pi, pu, pe, po ぱ、ぴ、ぷ、ぺ、ぽ

c. Âm đơn (bán phụ âm + nguyên âm)

Có 5 chữ như sau:
Y: ya, yu, yo や、ゆ、よ
W: wa, wo わ、を

d. Âm đặc biệt

n:  ん
っ (phụ âm đôi, hay còn gọi là tsu nhỏ )
ー (trường âm, hay còn gọi là âm kéo dài dùng cho bảng chữ cứng katakana)

B. Âm đôi: là âm gồm 2 chữ bao gồm các chữ cái Hàng i như ki, shi, chi, mi... ghép với 3 chữ cái ya, yu, yo.

Trong trường hợp này 3 chữ ya, yu, yo sẽ được viết bé đi.
Ví dụ:

kya ,kyu, kyo きゃ、きゅ、きょ
Sha, shu, sho しゃ、しゅ、しょ
Cha, chu, cho ちゃ、ちゅ、ちょ
Nya, nyu, nyo にゃ、にゅ、にょ
Mya, myu, myo みゃ、みゅ、みょ
Rya, ryu, ryo りゃ、りゅ、りょ
Gya, gyu, gyo ぎゃ、ぎゅ、ぎょ
Ja,ju,jo じゃ、じゅ、じょ
Dya,dyu, dyo(ぢゃ、ぢゅ、ぢょ chủ yếu sử dụng trong bảng chữ katakana khi du nhập từ ngoại lai do đó tạm thời bỏ qua chưa cần học)
Bya, byu, byoびゃ、びゅ、びょ
Pya, pyu, pyo ぴゃ、ぴゅ、ぴょ

Dưới đây là bảng chữ cứng katakana
http://happylilac.net/katakana-g-01.pdf

Ấn phím mũi tên < để quay về bài viết cũ "các kiểu chữ tiếng nhật" trong album "Bảng chữ cái"

Ấn phím mũi tên >để đến với bài viết mới về chữ mềm hiragana.

đính chính:không phải là "đọc từ trái qua phải" mà là "đọc từ phải qua trái


Tuesday, December 15, 2015

Bài 54: V1てはV2

Unknown     5:43 AM    
Bài 54: V1てはV2

Cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa, cứ viết rồi lại xóa....

Các bạn sẽ hỏi tại sao tôi lại lảm nhảm như vậy phải không? Câu trả lời nằm dưới đây.

Cấu trúc V1てはV2 dùng để diễn tả các hành động như bên trên, 2 việc mà cứ làm cái việc trước xong thì làm luôn cái việc thứ 2, diễn tả một trạng thái lặp đi lặp lại. Thường là cái việc làm sau ngáng trở sự việc đàng trước, kiểu như người làm kẻ phá. Thành ra là nó cứ dao động qua lại, mãi như vậy. Ví dụ:

一行書いては考え込むので、レポートがまったく完成できない。
Cứ viết một dòng thì lại nghĩ lại thành ra mãi chả viết xong báo cáo

彼に会いたくて、彼のこと考えてはため息をついた。
Tôi muốn gặp anh ấy nên cứ nghĩ về anh ấy rồi lại thở dài.

書いては消し、書いては消し、やっと彼女へのラブレターを書き上げた。
Viết rồi xóa, viết rồi xóa, cuối cùng cũng viết được bức thư tình cho cô ấy.

Nói một cách tổng quát lên thì cũng không hẳn là việc sau ngăn cản việc đằng trước, đó chỉ là một cách sự dụng rất thông dụng của cấu trúc này thôi. Chính xác ý nghĩa của cấu trúc này là diễn tả 2 sự việc xảy ra mà khoảng cách thời gian giữa chúng là rất ngắn, ngay liền sau nhau và lặp đi lặp lại nhiều lần. Tóm lại 2 điểm mấu chốt là:
-Khoảng cách ngắn
-Lặp đi lặp lại.  
Ví dụ:

時計を見てはどきどきして、恋人が来るのを待った。
Chờ người yêu đến, cứ nhìn đồng hồ xong lại thấy hồi hộp.

Như trong ví dụ cuối cùng, anh chàng kia đi gặp người yêu nên trong khi đợi cứ vừa nhìn đồng hồ xong thì tim lại đập thình thình, nhìn xong lại đập thình thình. Lạ nhỉ, người yêu chứ có phải mẹ con nhà Cám  đâu mà sợ!

Bài 53: 千の風になって

Unknown     5:42 AM    
Bài 53: 千の風になって

Chào các bạn. Hôm nay chúng ta sẽ đổi không khí một chút. Học tiếng Nhật qua bài hát千の風になって ( Trở thành hàng ngàn cơn gió). Bài hát này đã được 秋川雅史(Akikawa Masafumi)trình bày tại Đại nhạc hội Việt – Nhật lần 2 vào năm 2008. Bài hát với phần nhạc và lời đậm chất suy tư, giống như lời hát của những linh hồn samurai trong gió, thể xác có thể mất đi nhưng ý chí không thì luôn còn và vẫn dõi theo những người họ yêu thương. 


のおので かないでください
Đừng khóc trước mộ tôi
そこにはいません んでなんかいません
Tôi không có ở đó, tôi đâu có chết

のに 千の風になって
Tôi biến thành ngàn cơn gió
あのきなを きわたっています
Thổi ngang qua bầu trời to rộng kia

にはになって にふりそそぐ
Vào mùa thu, tôi trở thành ánh sáng tràn trên những cánh đồng
はのように きらめくになる
Mùa đông tôi trở thành tuyết lấp lánh như kim cương

はになって あなたをめさせる
Buổi sáng biến thành chim, đánh thức em dậy
はになって あなたをる
Buổi tối thì biến thành những ngôi sao, dõi theo em.

のおので かないでください
Đừng khóc trước mộ tôi
そこにはいません んでなんかいません
Tôi không có ở đó, tôi đâu có chết

のに のになって
Tôi trở thành ngàn cơn gió
あのきなを きわたっています
Thổi ngang qua bầu trời to rộng kia

のに のになって
あのきなをきわたっています
あのきなをきわたっています
Thổi ngang qua bầu trời to rộng kia.....

Bài 52: Tiếng Nhật lóng (phần 3)

Unknown     5:41 AM    
Bài 52: Tiếng Nhật lóng (phần 3)

Chào các bạn. Hôm nay mình bận việc ở trường nên post bài hơi muộn. Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục phần tiếng Nhật lóng. Xin được giải thích lại một chút là có nhiều bạn hiểu nhầm tiếng Nhật lóng với tiếng địa phương, vùng miền. Thực chất tiếng Nhật lóng là tiếng Nhật được dùng hàng ngày, dùng một cách suồng sã, và thường là thanh niên dùng với nhau. Vậy nên nó rất quan trọng nếu các bạn muốn giao tiếp tốt với người Nhật đặc biệt là thanh niên Nhật.

-めっちゃ:
Đây là một từ lóng chuyên dùng để diễn tả cảm xúc có nguồn gốc xuất phátめちゃくちゃ nghĩa là “ điên cuồng, điên rồ”. Khi nói “めっちゃ面白い” thì có nghĩa là “thú vị kinh khủng”.

-やばい:
Đây là một từ đứng hàng đầu trong các từ lóng thông dụng. Nó được dùng như một từ đa năng, được dùng nhiều đến mức mà khi nhận xét một cái gì thì bạn cứ nói やばい ra, còn họ thích hiểu thế nào thì hiểu. やばい có thể có những nghĩa sau: tuyệt, ghê gớm, kinh khủng, nguy hiểm, bựa, tiều, xuất sắc. Ví dụ:

やばいぞ!
Nguy rồi!

そんな話ってやばいわ
Câu chuyện ấy ghê thật!

Tại sao từ やばい lại có thể diễn tả nhiều ý nghĩa như vậy vì đơn giản là nó  やばい. Bạn hiểu rồi chứ?

-そうっすね・そっすね:
Từ này thực chất không có gì, chỉ là cách nói khác của そうですね thôi.

Nói chung đã là từ lóng thì quy tắc chung là không được dùng với người lớn tuổi hơn. Gây phản cảm cho người nghe, nhất là với một đất nước trọng lễ nghi như Nhật Bản.

Bài 51: Liên từ (phần 1)

Unknown     5:39 AM    
Bài 51: Liên từ (phần 1)

Chào các bạn, đọc tiêu đề bài này các bạn đã hiểu tại sao bài trước lại tên là “Tiền Liên Từ ” chưa ;)). Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu một phần mới trong ngữ pháp tiếng Nhật có tên là “Liên Từ”.

Liên từ là các từ dùng để nối các câu có liên quan về mặt ý nghĩa đứng cạnh nhau. Nói chung là có cực nhiều nhưng thường được chia làm một số nhóm chính như: nguyên nhân-kết quả, tương phản, bổ sung ý nghĩa, liệt kê, chuyển chủ đề,... Nếu sử dụng thành thạo các liên từ trong tiếng Nhật thì câu văn, phong thái nói chuyện trở nên hay hơn nhiều. Hôm nay chúng ta chỉ học 1 phần trong số đó. Nhóm “nhân quả”: それで、そのため、というわけで、だから、で、ですから、したがって、よって、ゆえに、そこで、すると、。。

Nói chung là hầu hết các từ này đều có nghĩa “vì vậy”, “vì thế ”, “do vậy”,..Tuy nhiên có đôi điều cần chú ý. Các từ そこで、それで、で、というわけで đều kết thúc bằng で mà chúng ta đã đề cập ở bài trước: “vì cái đấy”, “vì đó”, “vì lí do đó”.  ゆえに là một từ cổ, hiện nay thường không được dùng mấy nhưng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện. すると cũng có thể được dịch là “ngay sau đó” chỉ hệ quả xảy ra do nguyên nhân câu trước. そこで có sắc thái nghĩa hơi khác một chút, theo sau nó thường là một câu có chứa ý chí, ý nguyện của người nói. Ví dụ:

前回のテストは点数があまりよくなかった。そこで、今回俺はよく頑張ろうとする。
Điểm lần trước không tốt lắm. Thế nên, lần này tao sẽ cố gắng. (Ý chí người nói thể hiện qua động từ thể ý hướng頑張ろう)

退屈なので、テレビをつけてみた。すると、寝ていた赤ちゃんが泣き出した。
Rảnh rỗi sinh nông nổi tôi bật tivi lên. Sau đó bé con đang ngủ bắt đầu khóc.

今日は停電の予定ですよ。というわけで、休講になりました。
Hôm nay theo lịch là cắt điện. Bởi vậy tôi được nghỉ học.

Hoặc là:
今日は停電の予定ですから、休講になりました。
Vì hôm nay theo lịch cắt điện nên tôi được nghỉ học.

Một câu hỏi các bạn sẽ thắc mắc là cùng có ý nghĩa như nhau mà lại lắm từ thế. Câu trả lời là ngoài sự khác biệt đôi chút về mặt sắc thái kể trên thì những từ này được chia làm 2 nhóm chính để sử dụng, văn nói và văn viết. Các từ dùng được trong văn viết thì cũng dùng được trong văn nói nhưng là văn nói lịch sự, trang trọng. Và không có chiều ngược lại, đã dùng để nói thì không viết.

Văn nói suồng sã: だから、よって、で

Văn nói lịch sự: というわけで、ですから

Văn viết: そのため、そこで、したがって、それで、すると、ゆえに

Văn nói suồng sã khác văn nói lịch sự ở chỗ nào ? Đó là văn nói suồng sã chỉ dùng với người thân quen như người thân, bạn bè,..Văn nói trang trọng dùng nói với người ngoài, người trên.

【応援メッセー】Lời động viên tinh thần

Unknown     4:35 AM    
【応援メッセー】Lời động viên tinh thần
『出来る、出来ない』を決めるのは自分だ。
(松岡修造)
Quyết định 『làm được, không làm được』là do bản thân.
-----------
他人から『無理だ』『諦めたほうがいい』なんて言われると、どうしても流されてしまうよね。
Khi bị người khác bảo "không thể, không làm được đâu", "nên từ bỏ đi" thì dù thế nào cũng sẽ bị lay động.
けれど、『諦める』と決めるのは、他人ではなく、自分なんだよ。
Nhưng mà việc quyết định "từ bỏ", không phải việc của người khác, mà là chính bản thân mình.
反対に、『諦めない』と決めるのも、自分なんだ。
Ngược lại, việc quyết định "không từ bỏ" cũng là việc của bản thân.
他人は、君が積み上げてきた努力や頑張りを、100%知っているわけではない
Và người khác không hẳn là biết được 100% những cố gắng, những nổ lực mà bạn đã vun bồi.
それを一番知っているのは、君の心だ。自分の心を信じてみようよ。そして、諦めるな。
Biết rõ nhất việc đó là trái tim của bạn. Hãy thử tin tưởng trái tim của bạn. Và ĐỪNG TỪ BỎ
【応援メッセージ】Lời nhắn động viên
苦しい時ほど、笑ってごらん
(松岡修造)
Khi gặp khó khăn, hãy cười thử xem.
--------------------
つらい時、苦しい時は笑顔になれないよね。でも、そんな時こそ、僕は笑うんだ。
Khi gặp đau khổ, khi gặp khó khăn thì khuôn mặt không thể tươi vui nổi. Nhưng mà, chình vì khi đó, tôi cười.
笑顔でいれば、自分も、周りの人も明るくなれると信じているから。
Vì nếu khuôn mặt tươi cười, bản thân cũng tin rằng mọi người xung quanh cũng trở nên vui vẻ.
大きな声で『明日は大丈夫!』『次は大丈夫!』と言いながら、笑顔とガッツポーズ。
Vừa giơ tay lên cao, thể hiện tư thế chiến thắng cùng khuôn mặt tươi cười, vừa nói to 『Ngày mai sẽ ổn』『Tiếp theo sẽ không sao』
そうすると、心も体も『そうかな?』なんて勘違いして、頑張る力や乗り切る力がどんどんわき出してくるんだ。
Nếu làm thế, cả tâm hồn và thể xác sẽ phán đoán sai lầm 『Đúng vậy nhỉ』, và khả năng cố gắng và sức mạnh chiến thắng sẽ phun trào liên tiếp không ngừng.
そうかな?』なんて勘違いして、頑張る力や乗り切る力がどんどんわき出してくるんだ。
Nếu làm thế, cả tâm hồn và thể xác sẽ phán đoán sai lầm 『Đúng như thế nhỉ』, và lực cố gắng và sức mạnh chiến thắng sẽ phun trào liên tiếp không ngừng.
Matsuoka shuzo

Bài 50: Tiền Liên Từ

Unknown     4:23 AM    
Bài 50: Tiền Liên Từ


Hê hê, chào mọi người. Không biết có ai thắc mắc về tên bài học ngày hôm nay không? Đã ai nghe “Tiền Liên Từ ” bao giờ chưa. Nếu chưa nghe thì đọc hết bài hôm nay đi sẽ hiểu.

Các bạn có biết cách thức đưa ra lí do trong tiếng Nhật thì rất nhiều, và trong đó có một cách là dùng で. Và sắc thái nghĩa của nó thì thường là đưa ra lí do có vẻ khách quan, giảm nhẹ tính chủ quan, trách nhiệm của người nói, kiểu như “Không phải lỗi của tôi, lỗi cái tay tôi =))”. Ví dụ:

道に迷ったので、遅刻してしまいました。
Vì lộn đường nên tôi đến muộn.

暇なので、ゲームをしています。
Vì rảnh rỗi nên tôi chơi game

この店は中心から離れていますが、食事が美味しいので、お勧めます。
Quán ăn này mặc dù xa trung tâm nhưng vì món ăn nấu ngon nên tôi xin được đề cử.

Cách kết hợp là N+で・N+なので、Aい+ので、Aなので、V thể thường+ので. Các bạn sẽ thắc mắc tại sao lại toàn ので chứ có phải で quái đâu. Thực chất cấu trúc này là で、 và có 1 quy tắc là で chỉ kết hợp với danh từ, thành ra trước khi kết hợp với で mà chưa phải danh từ thì phải danh từ hóa nó trước. Thế nên N+で hay N+なので đều được cả. Còn về việc danh từ hóa thì mình sẽ viết cụ thể ở bài khác. Ngoài ra bạn có thể thay の bằng ん cũng chả vấn đề gì、bởi vì khi đọc nhanh の hay bị biến thành ん, nói chung ん thì mang tính hội thoại nhiều hơn. Ví dụ:

暇なんで、ゲームをしています。

この店は中心から離れていますが、食事が美味しいんで、お勧めます。

Đã nói đến なんで rồi có một cách dùng mà không thể không đề cập đến. Có vẻ như các giáo trình hay dạy cách hỏi “tại sao” là どうして hoặc なぜ. Nhưng thực tế thì trong cách nói hàng ngày của người Nhật họ hay dùng なんで hơn. なんで ở đây không phải là “bằng cái gì?” bởi vì で này không phải で phương tiện, cách thức. で ở đây chính là trong cấu trúc で bên trên, chỉ nguyên nhân, còn なん là chữ 何 (cái gì). Nói cách khác なんで có nghĩa là “vì cái gì?”. Xin nhắc lại là khi hỏi người khác “tại sao” thì hãy dùng なんで thay vì どうして và なぜ bởi vì どうして và なぜ dùng trong ngôn ngữ viết nhiều hơn và nếu trong hội thoại mà hỏi bằng “どうして” hoặc “なぜ” nói chung người nghe sẽ ko thích vì nó có cảm giác là bị hỏi cung. Khi dùng thì đặt ở đầu câu để hỏi.


Bài hôm nay đến đây là hết rồi, các bạn đã hiểu “Tiền Liên Từ” là gì chưa? Chưa hiểu thì cũng dễ hiểu thôi vì nó là cái mình vừa chém ra chứ có nghĩa gì đâu =)). Chắc đọc đến bài sau sẽ biết tại sao bài này tên là “Tiền Liên Từ”. Nếu nhanh trí có thể bạn đã đoán ra rồi ;))

Còn sau đây là bài hát どうして君を好きになってしまったんだろう? → Tại sao anh lại thích em chứ?

Bạn nào sáng tạo hát theo cũng chớ hát thành なんで君を好きになってしまったんだろう? Sắc thái nghĩa khác nhau đấy.

Bài 49: Vたがる

Unknown     4:23 AM    
Bài 49: Vたがる

Chào mọi người. Hôm nay là bài cuối cùng trong loạt bài về “ham muốn” rồi. Trong bài trước chúng ta đã đề cập đến cách nói “muốn làm gì” của ngôi 1 và ngôi 2. Còn hôm nay chúng ta sẽ học cách nói “Cô ấy muốn ăn kem”. Khi dùng với ngôi thứ 3 thay vì dùng Vたいchúng ta sẽ dùng Vたがる. Đơn giản phải không? Cách chia động từ là Vます bỏ ます. Ví dụ:

彼女はアイスクリームを食べたがります。
Cô ấy muốn ăn kem

そこへ行きたがる人は誰もいないの?
Không ai muốn đến đấy à?


そこへ行きたい人は誰もいないの?
Không ai muốn đến đấy à?


2 ví dụ cuối được dịch nghĩa giống nhau, nhưng thực chất nó khác nhau ở ngữ cảnh, chủ thể hành động. Các bạn hãy tự nghĩ xem trong 2 ngữ cảnh ấy khác nhau như thế nào nhé. Coi như bài tập, ai giải thích hợp lí sẽ có thưởng. Động não chút đi cho khỏe người!!

Một điểm nữa cần lưu ý với các bạn là động từ sau khi kết hợp với たがる sẽ trở thành một cụm động từ loại 1. Tức là sau đó bạn có chia động từ tiếp thì phải chia nó theo quy tắc của động từ loại 1. Ví dụ:

はとしたがって、のもかまわず、にしてしまいました。
Anh ta vì muốn cưới cô ấy mà không thèm quan tâm đến ý kiến ba mẹ, đã tự ý cưới.
(Cấu trúc V てしまう, もかまわず đã học trong bài 19, 20)

Bài hôm nay cũng nhẹ nhàng thôi, không có gì nhiều. Chỉ cần khi dùng các bạn chú ý đến ngôi của chủ thể tạo ra hành động là được.

Bài 48: Vたい

Unknown     4:22 AM    
Bài 48: Vたい

Chào các bạn. Như đầu tuần đã nói tuần này chúng ta sẽ học tất cả các cấu trúc nói đến ham muốn, nguyện vọng trong tiếng Nhật nên hôm nay chúng ta hãy cùng xem thử cấu trúc Vたい。Cấu trúc này dùng khi nói bản thân muốn làm gì đó hoặc hỏi, xác nhận về ý muốn người nghe. Nói tóm lại là ngôi 1 và ngôi 2, cụ thể là “tôi muốn”( ngôi 1), “bạn muốn”(ngôi 2), nhưng KHÔNG có “anh ấy cô ấy muốn” ( ngôi 3 ). Bởi vậy chúng ta sẽ học cấu trúc biểu thị ham muốn của ngôi 3 trong bài sau. Ví dụ:

はさ、へきたくなかったものだ。
Tôi ấy, ngày bé chả thích đi nhà trẻ.
(Biểu thị ý muốn của người nói)

東京へ行きたいですか
Anh muốn đi Tokyo ah?
(Hỏi xác nhận lại ý muốn người nghe)

Một câu hỏi đặt ra là nếu hỏi ý muốn người nghe thì cấu trúc này có thể dùng để mời mọc kiểu như :

へ行きたいですか
Anh có muốn đi đến căng tin trường không?
(Cũng là một thể loại hỏi ý kiến người nghe)

Câu trả lời là KHÔNG. Những lúc ấy ta dùng “学食へ行きませんか”
.
彼は東京へ行きたいそうです。
Nghe nói anh ấy muốn đi Tokyo
( Không dùng cách nói này, mặc dù nếu nói thì người Nhật vẫn hiểu, có điều là sai ngữ pháp)

Ngoài ra khi động từ kết hợp vớiたい thì chúng ta có thể dùng với trợ từ が thay vì をnhưng nếu không dùng thì cũng chả sao. Nguyên nhân của việc có thể dùng がlà bởi vì khi kết hợp với たい thì cả cụm ấy sẽ chuyển thành tính từ đuôi い. Mà khi dùng tính từ thì người ta dùng が chứ không dùng を bao giờ. Tất nhiên xin nhắc lại trong trường hợp này bạn có thể dùng cả が và を。Ví dụ:
私はのを(が)食べたいなぁ。
Tôi muốn ăn thịt bò Kobe.

Khác với ほしい trong bài trước chỉ dùng với danh từ, cấu trúc này chỉ dùng với động từ, và cách chia động là để thể ます nhưng bỏ ます. Các bạn có thể tham khảo trong các ví dụ trên.

Còn một bài nữa liên quan đến chủ đề này và tuần sau chúng ta sẽ tạm dừng ngữ pháp để học sang những phần khác. Vậy hẹn gặp các bạn trong bài học cuối tuần.

Bài 47: ~がほしい・~Vてほしい

Unknown     4:21 AM    
Bài 47: ~がほしい・~Vてほしい

Chào mọi người. Hôm nay chúng ta học một cấu trúc có thể coi là sơ cấp. Đó là cấu trúc ほしい mặc dù phần nhiều những bài viết là dành cho trung cấp. Bởivì tuần này chúng ta sẽ học một loạt các cấu trúc nói về sự mong muốn mà trong đó có cả cấu trúc ほしい.

ほしい được viết chữ Hán là 欲しい, chữ Hán của nó là chữ Dục trong dục vọng nghĩa là ham muốn.Cấu trúc này thể hiện ham muốn sở hữu một vật, một cái gì đó nào đó của người nói. Ngoài ra nó cũng có thể được dùng để hỏi về ham muốn của người nghe. Đối tượng của sự ham muốn được theo sau bởi trợ từ が. ほしい là tính từ đuôi い nên nếu trong câu nó được chia tiếp sang thể khác thì nó vẫn tuân theo quy luật của tính từ đuôi い. Ví dụ:

車(くるま)が欲しい(ほしい)なぁ。
Muốn có xe hơi quá à!

彼女(かのじょ)が欲しければ、まず自分を磨(みが)けなきゃと思う。
Tôi nghĩ nếu bạn muốn có bạn gái thì trước hết phải đánh bóng bản thân đã.

Đó là dạng cơ bản của cấu trúc ほしい. Dạng nâng cao của cấu trúc này là Vてほしい. Tức là khi kết hợp với động từ thể て cấu trúc này có nghĩa là ta muốn người nghe làm cái công việc ấy cho mình. Ví dụ:

どうか来てほしい。水際まで来てほしい。
Dù thế nào cũng muốn anh/em đến. Muốn anh/em đến bên bờ sông.
(Xin lỗi vì câu này có vẻ chả ăn nhập gì. Thực chất nó là lời bài hát của ハナミズキ).

学校へ来る前、宿題(しゅくだい)を完成(かんせい)させてほしい。
Tôi muốn các em hoàn thành bài về nhà trước khi đến lớp.

Bài học hôm nay đến đây là hết rồi. Hẹn gặp các bạn trong bài tiếp theo của loạt bài này.

Cuối cùng xin mời các bạn thưởng thức bài hát ハナミズキ trong bộ phim nổi tiếng cùng tên của Nhật và nghe xem cấu trúc vừa học xuất hiện ở chỗ nào nhé.


Bài 46: Trợ từ で và に trong chỉ thời gian

Unknown     4:20 AM    
Bài 46: Trợ từ で và に trong chỉ thời gian

Phù mệt quá, đi suốt cả ngày trời, mệt rã rời. Đúng như lịch hôm nay post bài nên dù hơi muộn tí mọi người thông cảm.

Hôm nay chúng ta sẽ học cách phân biệt giữa 2 trợ từ で và に trong cách dùng với thời gian. Mặc dù trợ từ là một trong những bài học sơ cấp nhưng thực tế thì khi các bạn học ngữ pháp trung cấp nhiều quá thành ra lại quên, nhầm lẫn giữa các giới từ (kinh nghiệm bản thân và bạn bè). Vậy nên hôm nay chúng ta sẽ học cách phân biệt rõ ràng các giới từ này.

Trước tiên mình xin đưa ra các khái niệm đầu tiên. に dùng với MỐC THỜI GIAN, 1 thời điểm ví dụ: 3月に、今朝に、4時に、午前中に、。。。Còn で là trạng từ dùng với KHOẢNG THỜI GIAN, ví dụ: 3ヶ月、4時間、2年間、一瞬、。。。Khi dùng với で thì có nghĩa là cái việc đó diễn ra trong bao lâu. Ví dụ:

この建物(たてもの)は三ヶ月(さんかげつ)で建(た)てられます。
Tòa nhà này được xây trong 3 tháng

今朝(けさ)に学校へ行きました。
Sáng nay tôi đã đến trường.

一瞬(いっしゅん)で休んで、仕事(しごと)を続(つづ)けたほうがいいですよ。
Nên nghỉ ngơi trong chốc lát rồi tiếp tục công việc thì hơn.

Các bạn có biết trạng từ で có 1 chức năng là chỉ phương tiện, cách thức không. Ví dụ:

毎日、自転車で学校に通います。
Tôi đến trường bằng xe đạp hàng ngày.

Ở đây khi diễn tả sự việc xảy ra trong bao lâu, công việc hoàn thành trong bao lâu chúng ta cũng dùng で。Tại sao lại vậy? Bởi vì hãy coi thời gian cũng là một phương tiện để thực hiện công việc đi. Nói tổng quát hơn, で là trợ từ dùng để chỉ ra những NHÂN TỐ mà bằng những nhân tố đó sự việc được diễn ra hay hoàn thành. Thế nào khó hiểu chưa? Nhưng rất tiếc mình lại thích hiểu như thế. Vậy nên tự các bạn nên tìm cách giải thích thích hợp cho riêng mình. Nếu chỉ học nhớ chay thì sẽ ko hiểu bản chất và dễ nhầm lẫn. Hãy tư duy để hiểu bản chất vấn đề.

Chúc các bạn có một cuối tuần vui vẻ!

Bài 45: ~に違いない(ちがいない)

Unknown     4:11 AM    
Bài 45: ~に違いない(ちがいない)

Chào các bạn. Mấy ngày dịp 20/11 gặp lại thầy cô bạn bè thế nào? Chắc là rất vui phải không? Còn bây giờ chúng ta vào bài học.

Các bạn có nhớ bài số 3 chúng ta học cấu trúc gì không? (Chắc không nhớ rồi). Chúng ta đã học cấu trúc ~に過ぎない(すぎない). Nếu có thể thì bạn hãy đọc lại bài đấy trước khi vào bài này mặc dù chúng chả liên quan gì về ý nghĩa. Nhưng với cách tiếp cận cấu trúc ngày hôm nay thông qua bài đó thì có lẽ các bạn nên đọc lại.

Trước tiên giải thích qua về ~に違いない. Cấu trúc này có thành phần chính là động từ 違う(chữ VI )có nghĩa là KHÁC BIỆT. Bình thường người Nhật khi muốn nói người khác đang nghĩ, hiểu nhầm một vấn đề gì đó, người ta sẽ nói 違う hoặc 違うよ, 違います. Và 違いない là phủ định của nó KHÔNG NHẦM, KHÔNG SAI được dùng để đưa ra PHÁN ĐOÁN mang đậm tính CHỦ QUAN của người nói. に là trợ từ để kết nối giữa cái việc-không-nhầm với 違いない. Về hình thức cấu trúc này cùng một kiểu với cấu trúc に過ぎない nên chúng ta hãy đặt lại các câu trong bài 3 bằng cấu trúc に違いない này xem.

人生(じんせい)は夢(ゆめ)にすぎない。長生き(ながいき)よりも、むしろ素晴らしい(すばらしい)人生のべきだろうか。
Cuộc đời chả khác gì một giấc mơ. Sống lâu đâu bằng sống đẹp. (nghe vần quá ta :D)  

お前(おまえ)、負け犬(まけいぬ)にすぎない。
Mày chả hơn gì một con cẩu bại trận.

Thay bằng に違いない:

人生は夢に違いない。長生きよりも、むしろ素晴らしい人生のべきだろうか。
Cuộc đời chắc chắn là một giấc mơ. Sống lâu đâu bằng sống đẹp.
(2 câu này chả có ý nghĩa gì ăn nhập với nhau nhưng nếu tách riêng ra chỉ có 人生は夢に違いない thì cũng có thể trong hoàn cảnh nào đó nó có lí )

お前、負け犬に違いない。
Mày chắc chắc là một con cẩu bại trận.
(Có thể lắm nếu như người nói muốn đưa ra phỏng đoán về tương lai )

Nói chung đặt lại câu nghe nó khập khiễng nhưng điều mình muốn nói ở đây là hình thức của 2 cấu trúc này giống nhau, tức là kết hợp với động từ, danh từ, tính từ nguyên thể . Sẽ dễ nhớ hơn khi chúng ta liên tưởng chúng. Sau đây là ví dụ thực sự của cấu trúc này:

あいつのことだから今日も遅れてくるに違いない。
Với cái kiểu của hắn thì hôm nay chắc chắc cũng đi muộn.
(kết hợp động từ)

あそこにかかっている絵(え)は素晴らしい。値段(ねだn)も高いに違いない。
Bức tranh được treo ở đó rất xuất sắc. Giá chắc chắn là đắt
(kết hợp tính từ)

あの話し方(はなしかた)からすると、彼のいっていることはうそに違いない。
Từ cái cách nói chuyện, chắc chắn những gì anh ta đang nói là bốc phét.
(kết hợp danh từ. Lưu ý với danh từ chúng ta có thể dùng cả Nであるに違いない/Nに違いない)

Chúng ta có thể thay cấu trúc PHỎNG ĐOÁN này bằng でしょう, だろう, かもしれない, かねない đã học ở bài 26, 27, 29 bởi vì cùng là PHỎNG ĐOÁN mà. Nhưng cao hơn tất cả, に違いない là dạng PHỎNG ĐOÁN với độ tin tưởng cao nhất. Chúng ta có thể sắp xếp chúng theo thứ tự về mức độ tin tưởng của PHỎNG ĐOÁN như sau:

に違いない > だろう > かもしれない

Bài 44: くらい・ぐらい

Unknown     4:10 AM    
Bài 44: くらい・ぐらい

Chào tuần mới! zzzzZZZ. Hơ buồn ngủ quá. Trời hôm nay lạnh chả muốn đi đâu cả. Thôi thì đi lên fb post bài vậy. Các bạn còn nhớ cấu trúc ほど chúng ta đã học trong bài 32, 33 không? Các bạn nên đọc lại bài đó trước khi đọc bài này. Bởi vì くらい・ぐらい là một cách sử dụng khá là giống với ほど. Cùng để chỉ mức độ của HÀNH ĐỘNG, TRẠNG THÁI.
Ví dụ:

その話(はなし)を聞(き)いて、息(いき)が止(と)まりそうになるぐらい驚(おどろ)いた
Nghe câu chuyện ấy xong tôi cảm thấy kinh hãi đến mức ngừng thở.
(息が止まりそうになるぐらいmức độ ngừng thở
驚いたhành động kinh hãi)

あの日のことは、思い出したくないくらい恥ずかしい(はずかしい)です
Chuyện của ngày hôm đó xấu hổ đến mức không muốn nghĩ lại.
(思い出したくないくらいmức độ không muốn nhớ nữa
恥ずかしいtrạng thái xấu hổ)

昨日(きのう)のテレビは、あごが外れるくらい笑った。
Chương trình TV ngày hôm qua buồn cười đến sái quai hàm.
(あごが外(はず)れるくらいmức độ sái quai hàm
笑ったhành động cười)

Các bạn thấy sao, rất giống với ほど phải không? Từ ý nghĩa đến cách kết hợp với động từ, danh từ, tính từ. Sự khác biệt lớn nhất giữa ほど và くらい・ぐらい là ほど dùng để chỉ những thứ với mức độ ghê gớm, khủng khiếp hơn. Chúng ta có thể nói 死(し)ぬほど疲(つか)れた nhưng không thể nói 死ぬくらい疲れた。

Ngoài ra các bạn sẽ có thể thắc mắc là tại sao lúc くらい、lúc lại là ぐらい, sao không dùng luôn một cái cho dễ. Vấn đề này là có lí do của nó đấy. Bạn hãy thử phát âm cụm này xem: 休んででも行くくらい大切なもの. Cảm giác thế nào khi phát âm liền lúc 2 chữ く? So với 行くぐらい thì cái nào đọc dễ hơn? Bạn hiểu vấn đề rồi chứ? Nhưng nói chung những trường hợp bị như thế cũng ít nên khi dùng bạn có thể thoải mái sử dụng くらい và nên chú ý 1 số trường hợp đặc biệt là được.

Và để bắt đầu tuần mới, sau đây là bản nhạc hay nhất thế giới. Cho tình yêu và hòa bình:


Bài 43: ~をはじめ。。。まで

Unknown     4:10 AM    
Bài 43: ~をはじめ。。。まで

今晩わ! Chắc đây là lần đầu tiên được chào bằng câu này trong topic kể từ ngày bắt đầu. Hôm nay chúng ta sẽ học về một cấu trúc liệt kê khá đặc biệt. Khác với các cấu trúc liệt kê khác, cấu trúc này liệt kê theo thứ tự ưu tiên, từ việc trung tâm đến việc thứ yếu. Tức là người nói muốn nhấn mạnh cái đầu tiên là cái chủ yếu, những cái sau chỉ là đi kèm thôi. Các bạn thử xem 2 ngữ này “đáng thương nhưng cũng đáng trách” và “đáng trách nhưng cũng đáng thương” giống nhau hay khác nhau như thế nào? Mẫu đằng trước “đáng thương” nhiều hơn còn mẫu sau “đáng trách” lại nhiều hơn. Tương tự như vậy thì mọi người chú ý đến thứ tự được ưu tiên như sau: đằng trước をはじめ là cái được ưu tiên và đằng sau nó là cái không ưu tiên. Ví dụ:

慶応大学(けいおうだいがく)は、大学をはじめ、小学校(しょうがっこう)まである。
Trường Keio có từ cấp đại học đến tiểu học.
(đại học Keio nên có cấp đại học là điều đương nhiên, là cái chủ yếu, nhưng mặt khác nó cũng có cả cấp tiểu học, và người ta muốn kể ra)

箱根(はこね)には温泉(おんせん)をはじめ、紅葉(もみじ)まである。
Ở Hakone đầu tiên phải kể đến suối nước nóng, rồi thì có cả cây lá đỏ.
(Hakone là 1 tỉnh rất nổi tiếng về suối nước nóng, nghe đến nó là người ta nghĩ đến suối nước nóng nhưng ngoài ra người ta vẫn muốn kể thêm những thứ phụ như cây lá đỏ)

Một ví dụ cho việc dùng sai cấu trúc này là:

この町には学校をはじめ、映画館(えいがかん)まであります。
Thị trấn này có từ trường học đến cả rạp chiếu phim.

Câu này sai vì nó chả có ý nghĩa gì khi nhấn mạnh rằng cái thị trấn này có trường học và có cả rạp chiếu phim. Nó giống như kiểu bạn nói rằng “Nhà em có từ cái bàn đến cả cái ghế” mà trong đó lại còn nhấn mạnh rằng “đầu tiên phải kể đến cái bàn”.


© 2011-2014 ソン先生. Designed by Bloggertheme9. Powered By Blogger | Published By Blogger Templates .